Latest Post

Showing posts with label Benh Hoc. Show all posts
Showing posts with label Benh Hoc. Show all posts

Bệnh Truyền Lây Chung Giữa Người Và Động Vật ( Zoonosis)

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 28, 2013 | 9:08 AM

Nguyễn Ngọc Tiến
Cục Thú y
1. Giới thiệu chung
Trên thế giới, bệnh truyền lây chung giữa người và động vật được gọi là “zoonosis”, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp do ghép từ “zoo” có nghĩa là động vật với từ “nosos” có nghĩa là bệnh. Bệnh truyền nhiễm chung giữa người và động vật có thể được truyền lây trực tiếp hoặc gián tiếp giữa người và động vật có xương sống khác. Trong chuyên môn, đôi khi bệnh được chia ra làm hai nhóm là anthropozoonosis và zooanthroponosis. Nhóm anthropozoonosis gồm những bệnh mà nguồn bệnh chủ yếu là ở trên động vật (động vật có xương sống không phải người) như bệnh lao bò, bệnh dại, bò điên, NIPAH,.., còn nhóm zooanthroponosis gồm những bệnh mà nguồn bệnh chủ yếu ở trên người, nhưng có thể lây truyền cho động vật và sau đó tồn tại trên động vật như một nguồn bệnh thứ cấp tạm thời và tiếp tục lây truyền (bệnh cúm lợn H1N1).

Theo thống kê chưa đầy đủ, hơn 60% bệnh truyền nhiễm hiện đang gây bệnh trên người là zoonosis và khoảng 75% bệnh mới xuất hiện gần đây là từ động vật truyền lây sang người. Trong lịch sử, đã có những vụ đại dịch gây chết rất nhiều người. Bệnh dịch hạch (Bubonic plague) xuất hiện từ Thế kỷ 15 đã giết chết 25% dân số châu Âu. Bệnh dịch hạch xuất hiện gắn liền với sự phát triển của quần thể chuột (nguồn bệnh) và bọ chét (nhân tố trung gian truyền bệnh). Bệnh sốt vàng da bắt nguồn từ khỉ ở châu Phi, lưu hành trong quần thể khỉ và lây truyền cho người qua muỗi. Bệnh lây lan ra khắp thế giới thông qua các hoạt động thương mại.

Tại Việt Nam, có nhiều loại bệnh truyền lây chung giữa người và động vật như bệnh dại, SARS, cúm gia cầm, bệnh do xoắn khuẩn (Leptospira), nhiệt thán, liên cầu khuẩn lợn typ II, giun bao ( Trichinella), lao, sốt xuất huyết,..

Các bệnh truyền lây chung giữa người và động vật khi xuất hiện thường gây tổn thất rất nặng nề. Nhiều bệnh có thể gây chết người nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời như cúm A/H5N1, bệnh dại,.. Hiện nay, do vấn đề biến đổi khí hậu, bão lũ, lụt lội và đặc biệt nhiều hoạt động của con người đã, đang và sẽ làm tăng nguy cơ phát sinh các bệnh zoonosis như: việc nuôi thú cảnh (chó, mèo) có thể làm gia tăng các ca bệnh dại và một số bệnh ký sinh trùng, các hoạt động săn bắn thú rừng trái phép, khai thác rừng, xây dựng nhà máy thủy điện, nuôi nhốt động vật hoang dã,.. làm tăng sự tiếp xúc và có thể tương tác trao đổi mầm bệnh giữa con người với động vật hoang dã, các hoạt động chăn nuôi động vật tập trung phục vụ nhu cầu thực phẩm tăng cao làm tăng cơ hội tiếp xúc giữa con người với vật nuôi, ý thức phòng chống dịch của chủ vật nuôi và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế có thể làm gia tăng các loại dịch bệnh truyền lây từ động vật sang người.

2. Các loại hình bệnh truyền lây chủ yếu
Bệnh zoonosis có thể truyền lây trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một số loài động vật chân đốt hoặc các nhân tố khác có trong môi trường.

- Bệnh lây truyền trực tiếp (Direct zoonosis): thường là những bệnh mà mầm bệnh có thể tự khép kín vòng truyền lây trong một loài động vật như bệnh dại, nhiệt thán, Leptospira, Trichinella,..

- Bệnh lây truyền theo chu kỳ vòng đời (Cyclozoonosis): thường là những bệnh mà mầm bệnh cần ít nhất hai loài động vật có xương sống trở lên để làm vật chủ trong quá trình hoàn thiện vòng truyền lây. Đây thường là bệnh ký sinh trùng như sán dây Taenia solium (lợn), sán dây Echinococcus granulosus (chó).

- Bệnh lây truyền qua trung gian (Metazoonosis): thường là những bệnh của động vật có xương sống nhưng mầm bệnh cần thêm loài động vật không xương sống hoặc vật chủ trung gian khác để hoàn thiện vòng truyền lây như: bệnh viêm não Nhật Bản và sốt xuất huyết (cần có muỗi), bệnh ký sinh trùng da do Leishmania (cần có ruồi sandflies), dịch hạch (cần có bọ chét ký sinh trên chuột), bệnh sốt do Rickettsia (cần có ve),.. Để lây truyền, những loại bệnh này cần phải có quần thể động vật mang mầm bệnh, nhân tố trung gian truyền bệnh phù hợp và quần thể người. Hiện nay, nhiều bệnh lây truyền qua muỗi đang phát triển mạnh do vấn đề biến đổi khí hậu dẫn đến thay đổi phạm vi hoạt động của muỗi.

- Bệnh lây truyền qua thức ăn, nước uống (Food borne) như Salmonella, prion (trong bệnh bò điên) gây bệnh vCJD ở người (variant Creutzfeldt Jakob), E.coli O157:H7 thông qua sản phẩm thịt bò nhiễm mầm bệnh,..

- Bệnh lây truyền qua vật chất hoại sinh (Saprozoonosis): là những bệnh mà tác nhân gây bệnh trong vòng truyền lây của nó có thể sinh trưởng trong môi trường ngoài cơ thể vật chủ như bệnh giun đũa chó Toxocara canis (trứng giun trong đất), bệnh do Histoplasma (nấm sống trong đất có phân gia cầm, phân chim), bệnh Salmonella,..

3. Các loại động vật mang mầm bệnh
Trong tự nhiên, có nhiều loại động vật có mang mầm bệnh, tuy nhiên, có một số nhóm động vật nhất định thường tham gia vào quá trình truyền lây.
- Dơi: Nipah, Sars, Ebola,..
- Loài gặm nhấm: Hanta virus, Leptospira,..
- Lợn: sán, Trichinella, Salmonella,..
- Chim: H5N1, Salmonella, Campylobacter,..
- Động vật linh trưởng: sốt vàng da, Ebola, HIV, sốt xuất huyết, đậu khỉ,..

Các tác nhân gây bệnh có thể là virut như: dại, Ebola, sốt xuất huyết, viêm não nhật bản, cúm gia cầm, sốt thung lũng Rift.., vi khuẩn như: dịch hạch, nhiệt thán, Leptospira, lao, sảy thai truyền nhiễm (Brucella), liên cầu khuẩn typ II ở lợn, qua thức ăn như Salmonella, Campylobacter,... ký sinh trùng như: sán dây, giun đũa, sán chó,.. Ngoài ra, tác nhân còn có thể là protein như prion gây bệnh bò điên, nấm (histoplasmosis),..

4. Phòng chống bệnh truyền lây chung giữa người và động vật
Hiện nay, do nhiều hoạt động của con người can thiệp vào tự nhiên đã làm gia tăng cơ hội tiếp xúc, trao đổi tác nhân gây bệnh giữa động vật nuôi, động vật hoang dã và con người, hơn nữa, các hoạt động giao thương quốc tế phát triển nhanh, vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu làm thay đổi phạm vi hoạt động của các loài chân đốt (nhân tố trung gian truyền bệnh) và ảnh hưởng trực tiếp tới nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang,.. từ đó làm tăng nguy cơ phát sinh các bệnh zoonosis. Vấn đề phòng chống các bệnh mới nổi và bệnh tái xuất hiện đang đòi hỏi nỗ lực của tất cả các nước trên thế giới. Tổ chức y tế thế giới (WHO) cùng với Tổ chức thú y thế giới (OIE) và Tổ chức Nông-Lương thế giới (FAO) đã đưa ra sáng kiến “Một thế giớI, Một sức khỏe” (One World, one Health) nhằm gắn kết các ngành y tế, thú y và bảo tồn động vật hoang dã để cùng chung tay phòng ngừa các bệnh zoonosis.

Ở nước ta đã có Pháp lệnh thú y, Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm, Luật vệ sinh an toàn thực phẩm là tiền đề cho việc triển khai các hoạt động phòng chống dịch ở người và vật nuôi.

Trong phòng chống bệnh truyền lây, nguyên tắc cơ bản nhất là phá vỡ vòng truyền lây củatác nhân gây bệnh bằng cách:

- Vệ sinh cá nhân (rửa tay sạch trước khi ăn uống hoặc chế biến thực phẩm, thực hiện “ăn chín uống sôi”, rửa tay sau khi tiếp xúc với động vật, sử dụng bảo hộ cá nhân khi tiếp xúc với động vật hoang dã, bảo vệ nguồn nước sinh hoạt không bị ô nhiễm bởi các chất thải của động vật,..)

- Nuôi cách ly động vật trước khi cho nhập đàn hoặc đưa vào khu vực chăn nuôi nhằm hạn chế lây truyền bệnh mới cho đàn vật nuôi và cho khu vực. Tiêm phòng vắcxin nhằm tạo miễn dịch chủ động cho người và vật nuôi. Tổ chức diệt chuột, ruồi, muỗi và các trung gian truyền bệnh khác.

- Giảm thiểu các hoạt động tàn phá môi trường dẫn tới mất cân bằng giữa vật chủ - mầm bệnh - nhân tố trung gian truyền bệnh và môi trường.

Các hoạt động cần thiết cần ưu tiên triển khai như:
- Giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác, khả năng nhận biết và biện pháp phòng tránh dịch bệnh ở cấp cộng đồng. Tăng cường hợp tác hai ngành thú y và y tế trong phòng chống dịch. Xây dựng chiến lược quốc gia khống chế một số bệnh nguy hiểm.
- Chủ động điều tra giám sát (bệnh mới hoặc lưu hành bệnh cũ) và khống chế ổ dịch, ưu tiên ở các khu vực có nguy cơ cao, từ đó thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về dịch bệnh.
- Khi phát hiện ca bệnh, tập trung kiểm soát nguồn bệnh và nhân tố trung gian truyền bệnh.
- Xử lý xác động vật và vật chất nhiễm mầm bệnh, thực hiện tiêu độc khử trùng khu vực nhiễm bẩn để giết chết tác nhân gây bệnh.
- Tiêm phòng cho người và động vật ở khu vực có nguy cơ cao, dự phòng sẵn nguồn vắcxin.
- Tăng cường sức đề kháng cho người và động vật thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, lai phối giống tốt ở động vật nuôi.
- Điều trị và cách ly sớm các ca bệnh ở người và động vật để hạn chế lây lan bệnh. Tiêu chuẩn hóa phác đồ điều trị. Xác định loại thuốc và dự phòng nguồn thuốc điều trị.
- Tăng cường vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Kiểm soát chặt tại cửa khẩu, tuyến biên giới để hạn chế việc đưa mầm bệnh vào trong nước qua hoạt động thương mại, du lịch.
- Tăng cường điều tra, nghiên cứu để hiểu rõ thêm về vòng truyền lây của dịch bệnh từ đó có biện pháp đối phó hiệu quả hơn.
- Giảm thiểu sự tương tác giữa con người và động vật./.

Bệnh Gạo Trên Trâu, Bò

Written By Chăn Nuôi on Sunday, June 23, 2013 | 5:51 AM

Do ấu trùng Cysticercus bovis gây ra , ký sinh ở bò, trâu. Hình thái ấu trùng Cysticercus bovis có hình hạt gạo kích thước 3 - 5,5 mm x 4 - 9 mm màu trắng hay vàng nhạt. Trong có nước trong suốt, một đầu sán bám màng trong. Đầu sán có 4 giác bám, đỉnh đầu không có móc.

1. Căn bệnh và ký chủ: Do ấu trùng Cysticercus bovis gây ra , ký sinh ở bò, trâu. Hình thái ấu trùng Cysticercus bovis có hình hạt gạo kích thước 3 - 5,5 mm x 4 - 9 mm màu trắng hay vàng nhạt. Trong có nước trong suốt, một đầu sán bám màng trong. Đầu sán có 4 giác bám, đỉnh đầu không có móc.

Sán trưởng thành Taenia saginata dài 4-10 mét đầu lớn hơn cổ hơi tròn, đỉnh đầu không có móc, có 4 giác bám hình ellip. Đốt thành thục chiều ngang lớn hơn chiều dọc, buồng trứng phân làm 2 nhánh. Đốt già chiều dọc lớn hơn chiều ngang, mỗi đốt sán có 124.000 trứng.

Trong một năm mỗi sán để được 594.000.000 trứng. Trứng sán hơi tròn, vỏ dầy, 30-40 x 20-30mm trong có thai 6 móc. 

2.Vòng đời: Đốt sán chửa rụng một hoặc nhiều (27 đốt) theo phân người, đốt sán vỡ và khuếch tán trứng ra xung quanh, bò ăn phải trứng sán trong thức ăn, nước uống trên bãi cỏ, vào đường tiêu hóa, trứng bị phân giải, thai 6 móc nở ra chui vào mạch máu niêm mạc ruột, tuần hoàn theo máu về tim, lưỡi, cổ đùi và các bộ phận khác thành ấu sán (Cysticercus bovis), phát triển chậm qua 3 - 6 tháng thành gạo. Khi người ăn thịt bò có gạo còn sống, nhờ dịch tiêu hóa màng bọc bị phân giải, đầu sán nhô ra bám vào đoạn trên của ruột non. Hoàn thành vòng đời khoảng 3 tháng. Sán trưởng thành mỗi ngày dài thêm 8-9 đốt.

3. Dịch tễ học: Ở Việt Nam, tình hình nhiễm tùy theo khu vực, nơi nuôi nhiều bò, hay ăn thịt bò tái có tỷ lệ cao. Một số vùng núi ít nuôi bò thì ít thấy bệnh.

Vật ký chủ trung gian nhiễm gạo không những ở bò mà còn ở trâu, dê, cừu, hươu.

Hình thức nhiễm bệnh: Người mắc sán dây bò do ăn thịt chưa chín, còn bò mắc gạo do ăn phải đốt sán ở người thải ra. 

4 . Triệu chứng:  Giai đoạn đầu, triệu chứng tương đối rõ; bò, bê, lần đầu nhiễm gạo thì thân nhiệt cao 40-41oC, rõ nhất ở mấy ngày đầu, triệu chứng cũng điển hình, gầy yếu, ỉa chảy nặng, vào ngày 4 - 5 ỉa chảy giảm đi, ăn ít hay nằm, ngừng nhai lại. Dạ cỏ chướng hơi, cơ lưng, con vật đau, niêm mạc nhợt khô, kết mạc hơi vàng, nhịp thở và tim tăng, sau 6 -12 ngày con vật khôi phục sức khỏe, các triệu chứng giảm đi, có trường hợp con vật chết, thường vào ngày thứ 7 thân nhiệt hạ thấp từ 40oC xuống 34oC, thường chết vào ngày thứ 8. Nếu con vật sống qua giai đoạn trên thì triệu chứng biểu hiện không rõ nữa, nhìn ngoài vẫn khỏe bệnh ở thể mạn tính.

5. Bệnh tích: Mổ khám xác chết con vật bị cấp tính thấy nhiều điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da cơ hàm, cơ bụng, cơ liên sườn, tim, có nhiều điểm tụ huyết trong xoang bụng có nước lẫn máu, dạ cỏ viêm cata, niêm mạc ruột non xuất huyết và viêm nặng, màng treo ruột, màng bụng, lách đều có nhiều vệt tụ huyết, hạch màng treo ruột sưng to trong có nước, bổ đôi hạch có màu hơi đỏ, xung huyết mạch máu não.


Hạt gạo màu trắng 1 cm trong cơ vân

6. Chẩn đoán: Chẩn đoán khi con vật còn sống tương đối khó, thời kỳ đầu cần theo dõi triệu chứng lâm sàng và tìm hiểu lịch sử bệnh. Khi đã thành gạo ở cơ thể, khó chẩn đoán chính xác.

7. Phòng trị: Bệnh gạo heo và gạo bò là bệnh chung ở người và gia súc, phải kết hợp chặt chẽ giữa thú y và y tế, áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp:

  • Xây dựng củng cố và thực hiện nghiêm túc qui định kiểm nghiệm thịt.
  • Để bảo vệ sức khỏe con người, phòng cho người không nhiễm sán heo, sán bò.
  • Nếu thấy gạo tùy mức độ nặng nhẹ mà xử lý: trên 40cm2 mà có trên 3 hạt gạo thì thịt phải hủy, chế biến thức ăn cho gia cầm. Nếu 40cm2 chỉ có 3 hạt gạo thì xử lý qua 3 phương pháp:
  • Luộc chín ở nhiệt độ 60-75oC, toàn bộ ấu trùng chết, thịt phải cắt mỏng thành miếng 2 kg dầy 6cm đun trong 2 giờ.
  • Ướp muối từ 10-15oC, gạo bò ướp 10-12 ngày, gạo heo 15 ngày.
  • Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh cho người và gia súc bao gồm:
                Xây dựng tốt hố xí 2 ngăn, ngăn ngừa bò heo ăn phân người.
                Không được nuôi thả rong nhất là heo.
               Nâng cao ý thức vệ sinh của người dân, qua đó tự giác không ăn thịt sống, tái chín, đi tiêu xong phải rửa tay sạch sẽ.

Phòng Ngừa Bệnh Báng Nước Trên Gà

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 20, 2013 | 8:10 PM

Ioannis Mavromichalis, Ph.D.
Bệnh báng nước phổ biến trên toàn thế giới, mặc dù vậy vẫn chưa có giải pháp triệt để cho bệnh này. Tuy nhiên, một số biện pháp can thiệp đến lượng thức ăn và dinh dưỡng có thể làm giảm tỷ lệ báng nước ở gà.
Một số biện pháp can thiệp được chứng minh có thể làm giảm tỷ lệ báng nước ở gà.
Bệnh báng nước phổ biến trên toàn thế giới, mặc dù vậy vẫn chưa có giải pháp triệt để cho bệnh này. Tuy nhiên, một số biện pháp can thiệp đến lượng thức ăn và dinh dưỡng có thể làm giảm tỷ lệ báng nước ở gà. Mặc dù không phải tất cả các biện pháp đều cho hiệu quả tương tự cùng thời điểm và ở mỗi trang trại, sự kết hợp của một số biện pháp có thể giúp làm giảm bớt hiện tượng này, tùy thuộc vào tần số và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Biện pháp phòng ngừa để kiểm soát sự ảnh hưởng hoặc sự xuất hiện của bệnh báng nước ở gà thường tập trung xung quanh việc hạn chế mức độ dinh dưỡng, liên quan đến tốc độ tăng trưởng, nâng cao tình trạng sức khỏe nói chung. Danh sách dưới đây bao gồm các biện pháp được biết đến nhiều nhất được tập hợp trên toàn thế giới, chủ yếu là kinh nghiệm thực tiễn.
1. Giảm lượng thức ăn ăn vào
Đây là biện pháp hiệu quả nhất được biết đến và nó cho kết quả tốt nhất khi được thực hiện trong hai tuần đầu tiên sau khi nở. Theo các nhà chuyên môn thời điểm bắt đầu khác nhau, nhưng hầu hết đều ​​đồng ý cho khoảng thời gian bảy ngày, bắt đầu từ tuần thứ hai sau khi nở.
2. Chuyển sang chế độ ăn nuôi vỗ - xuất chuồng sớm hơn
Với cách làm này, một lần nữa, làm giảm mức độ của dinh dưỡng bằng cách cung cấp chế độ ăn ít dày đặc hơn trong giai đoạn gà còn nhỏ. Điều này cũng có thể đạt được bằng việc cắt giảm hàm lượng các chất dinh dưỡng cho tất cả các khẩu phần ăn, nhưng phương pháp này đòi hỏi phải có chế độ quản lý thức ăn ít hơn.
3. Chế độ cho ăn “Bỏ 1 ngày”
Một biện pháp rất mạnh mẽ cũng được đề nghị thực hiện trong suốt thời gian đầu. Thích hợp nhất cho những trường hợp bị báng nước nặng. Những hoạt động bị mất ảnh hưởng đến sự tăng trưởng sẽ được đền bù sau, nhưng điều này tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của việc giảm lượng thức ăn ăn vào.
4. Khẩu phần ăn so với chế độ ăn thức ăn viên
Khẩu phần ăn đặc biệt với một hàm lượng chất xơ cao hơn một chút, có thể được sử dụng để giảm lượng thức ăn gián tiếp, không hạn chế lượng thức ăn thông qua quản lý.
5. Vitamin C và E
Vitamin C đã được chứng minh để làm giảm bệnh báng nước, nhưng vai trò của vitamin E vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên , nhìn chung, việc cải thiện tình trạng chất chống oxy hóa của gia cầm đã được chứng minh để làm giảm bênh báng nước, đặc biệt khi cho gia cầm ăn chế độ ăn giàu chất béo.
6. Sodium bicarbonate
Thêm 1% sodium bicarbonate trong thức ăn chăn nuôi gà thịt có thể giảm tỷ lệ bệnh báng nước, nhưng thêm các hợp chất tương tự trong nước uống đã được chứng minh là làm trầm trọng thêm vấn đề của bệnh này. Vì vậy, việc tăng khẩu phần ăn có tính kiềm được đề nghị.
7. Thuốc phòng trị cầu trùng
Việc sử dụng các chất phòng trị cầu trùng trong thức ăn đã được chứng minh là làm giảm một nửa các vấn đề về bệnh báng nước, đặc biệt là khi các chất phòng trị cầu trùng khác nhau được luân chuyển trong cung 1 đàn.
8. Acetylsalicylic acid
Việc thêm thuốc này vào nước uống được phổ biến rộng rãi đã chứng minh trong một số trường hợp, có thể giúp chống lại bệnh báng nước.
9. Thức ăn chứa protein
Chế độ ăn cho ăn ít protein (ít hơn 4%) có thể làm giảm nhu cầu oxy cho quá trình chuyển hóa của protein dư thừa, và điều này là quan trọng bởi vì bệnh báng nước thường kết hợp với thiếu oxy.
10. Arginine
Việc tăng arginine trong chế độ ăn uống được giả định là có lợi ích tiềm năng trong phòng trị bệnh báng nước khi axit amin này làm tăng cung cấp oxy cho các mô do có tác dụng giãn mạch của nó. Tuy nhiên, trong thời điểm này Arginine tổng hợp rất đắt tiền.

Một Số Thông Tin Về Bệnh Sốt Q (Query)

Written By Chăn Nuôi on Tuesday, June 18, 2013 | 7:01 AM

Người viết: Đỗ Hữu Dũng
Trong thời gian qua, tại Hà Lan đã xảy ra ổ dịch Sốt Qtrên gia súc và trên người. Trong đợt dịch này, tính đến ngày 30/01/2010, đã phát hiện bệnh ở 63 trang trại nuôi dê sữa với tổng số 37.000 con dê đã bị tiêu hủy. Ngày 25/01/2010, phát hiện thêm 01 trang trại cừu sữa mắc bệnh. Ngày 27/01/2010 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Verburg và Bộ trưởng Bộ Y tế Klink đã có phiên điều trần trước Hạ viện về các biện pháp khống chế ổ dịch này, vốn được xác định là nguyên nhân gây ra 46 ca bệnh trên người ở Hà Lan. Lần đầu tiên bệnh được phát hiện trên người vào năm 2007, đến cuối năm 2009 chính phủ Hà Lan đã quyết định áp dụng các biện pháp khống chế nghiêm ngặt. Theo Bộ Y tế và Viện Y tế cộng đồng và Môi trường, đã có 6 ca bệnh tử vòng trong tổng số khoảng 3.600 bệnh nhân nhiễm Sốt Q. Bệnh Sốt Q chưa từng được ghi nhận tại Việt Nam, tuy nhiên, để tăng cường giám sát bệnh,đề phòng bệnh xâm nhập vào Việt Nam, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin tóm tắt về bệnh.


Sốt Query (Q) là bệnh truyền lây từ động vật sang người xảyra ở nhiều nước trên thế giới. Con người nhiễm bệnh thông qua tiếp xúc với vật mang trùng, đặc biệt là động vật nhai lại. Sốt Q là bệnh có tính truyền nhiễmcao, do vi khuẩn Coxiella burnetii gây ra. Đây là vi khuẩn nhỏ đa hình thái, kích thước dài từ 0.3–1.5 μm × chiều rộng 0.2–0.4 μm. Do là vi khuẩn ký sinh nội bào nên C. burnetii chỉ có thể mọc trên môi trường trứng có phôi hoặc môi trường tế bào và khi cần thiết thì qua tiêm truyền cho động vật thí nghiệm. Có hai dạng kháng thể: kỳ I độc lực cao, thấy trên động vật hoặc người nhiễm bệnh và kỳ II độc lực thấp, thu được khi tiêm truyền liên tục qua trứng có phôi hoặc môi trường tế bào. 

Ở trên người, Sốt Q xảy ra ở thể cấp tính (sốt ngắt quãng từng cơn, viêm phổi, viêm gan) hoặc thể mạn tính nặng (viêm nội mạc tim) sau khi nhiễm bệnh mà không biết. Thể cấp tính sẽ qua đi khá nhanh nếu được điều trị bằng kháng sinh phù hợp nhưng thể mạn tính cần điều trị dài hạn bằng kháng sinh (trong vòng 2 năm hoặc hơn), kết hợp với giám sát huyết thanh học. Một số nước sử dụng vắc xin để tiêm phòng cho quần thể gia súc mẫn cảm.

Triệu chứng ở bò bao gồm sảy thai, chết hoặc để non, sát nhau, viêm tử cung và vô sinh. Ở động vật nhai lại nhỏ, Sốt Q thường gắn với sảy thai thường kỳ hoặc các đợt dịch xảy thai xuất hiện sau khi con vật hồi phục khi không bị kế phát. Bệnh do Coxiella burnetii gây nên thường kéo dài nhiều năm, có khi tồn tại cả đời. Cừu, dê và bò là những vật mang trùng chính nhưng có thể thải trừ khối lượng lớn vi khuẩn khi đẻ và thải trừ theo từng đợt ngắt quãng. Động vật nuôi như chó, mèo, thỏ, gia cầm, v.v… cũng mẫn cảm với bệnh và phải được xem là nguồn lây bệnh tiềm tàng cho động vật và cho người.

Chẩn đoán phát hiện tác nhân gây bệnh:

Để chẩn đoán phòng thí nghiệm, có thể lấy mẫu nhau thai, dịch tử cung và gan, phổi hoặc chất chứa dạ dày của thai bị sảy hoặc lấy mẫu sữa, sữa đầu và phân.

Có thể thấy vi khuẩn khi quan sát trên tiêu bản kính nhuộm màu khi quan sát bằng kính hiển vi với thấu kính ngâm dầu. Vì vi khuẩn này có sứckháng a-xít nên có thể nhuộm bằng nhiều phương pháp như: Stamp, modified Ziehl–Neelsen, Gimenez, Giemsa và modified Koster. Khi phát hiện thấy tác nhângây bệnh và kết hợp với các phương pháp huyết thanh học, triệu chứng lâm sàng và khi không có tác nhân gây bệnh sảy thai khác thì có thể kết luận chẩn đoán rằngđó là do bệnh Sốt Q ở cấp độ đàn.

Ngày nay, phương pháp tổ chức phôi – miễn dịch sử dụng các kháng thể đặc hiệu hoặc phương pháp phản ứng chuỗi polymerase (PCR) đã chứng tỏ là những phương pháp đặc hiệu và nhạy hơn so với các phương pháp nhuộm trước đây. Hiện nay trên thị trường không có các kháng thể đặc hiệu cho phương pháp hóa miễn dịch nhưng có thể tiến hành làm PCR nếu có thiết bị phòng thí nghiệmthích hợp. PCR được coi là phương pháp tốt để sàng lọc số lượng lớn mẫu bệnh phẩmvà khi có nhiều loại mẫu khác nhau. Hơn nữa, có thể xử lý mẫu bằng nhiệt để đảm bảo an toàn cho nhân viên phòng thí nghiệm.

Có thể phân lập Coxiella burnetii bằng cách nuôi cấy trênmôi trường tế bào thông thường hoặc tiêm vào túi khí trứng gà có phôi hoặc tiêm cho động vật thí nghiệm. Tiêm truyền cho động vật thí nghiệm (chuột lang, chuộtvà chuột hamster) là phương pháp hữu ích trong trường hợp cần phân lập vi khuẩn từ bệnh phẩm tạp nhiễm với nhiều vi sinh vật khác nhau hoặc để có được các kháng nguyên Coxiella kỳ I.

Các phương pháp huyết thanh học: Việc chẩn đoán Sốt Q thường thường dựa vào các phương pháp huyết thanh học. Có thể sử dụng một số phương pháp, đặc biệt là phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, phản ứngmiễn dịch hấp phụ liên kết enzyme và phương pháp cố định bổ thể. Hiện nay, các phương pháp có trên thị trường cho phép phát hiện kháng thể C. burnetii kỳ II. Sựhiện diện của kháng thể đặc hiệu IgG là bằng chứng về việc gần đây mới mắc hoặc trước đó đã phơi nhiễm với C. burnetii.

Các yêu cầu đối với vắc xin và sinh phẩm chẩn đoán: Có một số loại vắc xin chết phòng Sốt Q đã được phát triển nhưng chỉ những vắc xin có chứa hoặc được chế từ C. burnetii kỳ I thì mới được xem là gây được miễn dịch bảo hộ. Người ta khuyến cáo sử dụng vắc xin tiêm hàng năm ở những vùng có dịch nặng, nhất là tiêm cho gia súc non.

Ở Slovakia có bán loại vắc xin chết kỳ I. Một nghiên cứu gần đây cho thấy vắc xin này có hiệu quả cả làm giảm cả hiện tượng sảy thai và thải trừ C. burnetii trên dê có chửa được tiêm phòng thí nghiệm, sau đó công cường độc nhưng vẫn chưa có thông tin về độ an toàn của vắc xin này.

Điều Trị Sỏi Tiết Niệu Theo Phương Pháp Nội Khoa

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 6:23 AM

Vũ Kim Chiến
Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị
Chi cục Thú y TP. Hồ Chí Minh

Sỏi tiết niệu là bệnh lý thường gặp trên hệ tiết niệu của chó. Theo số liệu thống kê năm 2011 của Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị - Chi cục Thú y TP. Hồ Chí Minh, qua 1570 ca bệnh lý hệ tiết niệu được chẩn đoán bằng kỹ thuật siêu âm đã ghi nhận được 675 ca sỏi niệu (chiếm 43%). Sỏi tiết niệu là một trong những nguyên nhân gây suy thận mãn tính trên chó.

Tùy theo vị trí, sỏi tiết niệu bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo. Trên thực tế sỏi thận rất hiếm gặp ở chó vì đa số sỏi niệu được hình thành ở bàng quang.

Theo thành phần hóa học sỏi tiết niệu bao gồm sỏi struvite, sỏi urate, sỏi oxalate và sỏi cystin…( xem hình 1,2,3)Trên 50% sỏi bàng quang là sỏi struvite, còn lại là sỏi oxalate, sỏi urate và sỏi cystin. Sỏi struvite thường gặp trên chó cái. Sỏi tiết niệu xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến ở giai đoạn 4 – 6 năm tuổi.

Nhiễm trùng đường niệu do Staphylococcus spp là một yếu tố đáng lưu ý trong việc hình thành sỏi struvite.


                                         Hình 1: Sỏi struvite                   Hình 2: Sỏi urate

Hình 3: Sỏi oxalate

Triệu chứng lâm sàng của bệnh lý sỏi tiết niệu trên chó là đi khom lưng, tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu không kiểm soát, tiểu ra máu hoặc bí tiểu. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp không có biểu hiện lâm sàng và chỉ được phát hiện tình cờ qua kiểm tra sức khỏe định kỳ. Chẩn đoán sỏi tiết niệu được thực hiện bằng phương pháp siêu âm hoặc chụp X-quang hệ niệu không dùng thuốc hoặc có dùng thuốc cản quang và xét nghiệm nước tiểu (hình 4,5,6,7).

Hình 4: Sỏi bàng quang trên chó cái:Viên sỏi (mũi tên đỏ) có hiện tượng tăng âm, kích thước đo được là 5,35 cm, kèm theo đó là vùng bóng lưng (mũi tên trắng).

Hình 5: Sỏi niệu đạo (mũi tên đỏ) trên chó đực, Sỏi cũng có hình ảnh đặc trưng là tăng âm và có bóng lưng. U: Urethral (niệu đạo); B: Bladder (bàng quang).

Hình 6: Sỏi thận hai bên với kích thước sỏi đo được lần lượt là 2,92 cm và 2,58 cm

Hình 7: Sỏi thận trái có kích thước 2,08 cm; thận phải ứ nước hoàn toàn, vùng vỏ thận mỏng (mũi tên xanh), vùng tủy thận có hồi âm trống (mũi tên tím).

Điều trị sỏi tiết niệu là một công việc rất phức tạp và lâu dài. Tùy vào vị trí sỏi, kích thuớc sỏi, thành phần hóa học của sỏi cũng như tình trạng ứ nước của thận để lựa chọn cách điều trị thích hợp: điều trị nội khoa hoặc điều trị ngoại khoa hoặc phối hợp cả hai phương pháp. Dưới đây xin gợi ý một vài phác đồ điều trị nội khoa sỏi tiết niệu.

Thuốc kháng sinh: Khi chó có các dấu hiệu của viêm thận, viêm bàng quang thì cần sử dụng một trong những loại kháng sinh có tác dụng trên đường tiết niệu để điều trị: Nhóm cephalosporin từ thế hệ thứ hai trở đi (cefuroxim, ceftriaxon, cefepim); Nhóm quinolon (norfloxacin, enrofloxacin). Cần lưu ý tránh các kháng sinh gây độc trên thận (như nhóm aminoside).

Thuốc lợi tiểu và truyền dịch: Có thể sử dụng dung dịch glucose 5%, NaCl 0,9%, thuốc lợi tiểu furosemide.

Thuốc giảm đau, an thần tác động đến hệ thần kinh trung ương: Sử dụng trong trường hợp thú có dấu hiệu đau quặn vùng thắt lưng, tuỳ thuộc vào mức độ đau mà có thể chọn một trong các loại thuốc sau: ketoprofen (cho uống 2 mg/kg thể trọng ngày đầu tiên, sau đó giảm còn 1 mg/kg thể trọng mỗi ngày); piroxicam (0,3 mg/kg thể trọng cho uống mỗi 2 ngày); diazepam (2 – 10 mg cho uống 3 lần mỗi ngày).

Thuốc chống co thắt, gây giãn cơ trơn, giãn niệu quản: No-spa, Spasfon.

Thay đổi chế độ dinh dưỡng: Khẩu phần ăn ít đạm, ít khoáng…

Sử dụng thuốc bào mòn và làm tan sỏi: Thực tế ít có thuốc nào có khả năng làm tan sỏi. Mục đích sử dụng các thuốc này là làm thay đổi môi trường pH nước tiểu, làm giảm khả năng các tinh thể sỏi kết dính lại với nhau từ đó làm chậm quá trình hình thành sỏi:

+ Ammonium chloride trong sỏi struvite: cho uống liều 200 mg/kg thể trọng/ngàychia làm 3 lần.
+ Allopurinol trong sỏi urate: cho uống theo liều 30 mg/kg thể trọng/ngày chia làm 2– 3 lần.
+ Methionine trong sỏi struvite: 0,2 – 1g cho uống mỗi ngày 3 lần./.

Sưu tầm: http://vetbookshop.blogspot.com

Bệnh Dịch Hạch Ở Chó

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 13, 2013 | 11:04 PM

Bệnh dịch hạch ở chó là 1 căn bệnh truyền nhiễm rất mãnh liệt, chủ yếu là ở chó non. Những con chó già tuổi cũng dễ bị mắc bệnh dịch hạnh. Ngoài ra bệnh dịch hạch còn lây truyền sang cả mèo và sang cả các động vất ăn thịt (chồn hôi, thuỷ thắt (con rái cá nâu - ND), chó núi, linh cẩu vằn, chó sói, cáo v.v…). 

Tác nhân gây ra bệnh dịch hạch là virus. Bệnh dịch hạch lây truyền qua đường hít thở (hô hấp - ND) và đường tiêu hoá. Sau khi lọt vào cơ thể virus cụ chăm sóc, thức ăn, ôi thiu Là nơi ở và đệm đã có chó ốm ở và nằm hoặc có thể do người, do các phương tiện giao thông.

Từ lúc bị lây bệnh đến lúc xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên của bệnh là phải trải qua 1 thời gian ủ bệnh. Giai đoạn ủ bệnh kéo dài từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 21. Trong thời gian này chó vẫn khoe mạnh nhưng đã có thể truyền bệnh sang các con chó khác. Chó đã bị mắc bệnh dịch hạch thì trước 3 tháng trong cơ thể có virus và có thể tủyền bệnh sang những con chó khác.

Các dấu hiệu của bệnh: Khi chó mới bị mắc bệnh dịch hạch thì rất khó để phát hiện. Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh là: chó hơi khó chịu, uể oải, mệt nhẹ, lông xù lên, ăn kém, thỉnh thoảng nôn mửa, có vẻ chối từ công việc, niêm mạc mắt … mồm đỏ lên, nước mắt và nước mũi chảy ra nhưng không nhiều, hơi bị đi tháo dạ.

Những dấu hiệu này có thể thể hiện ở những con chó này thì mãnh liệt hơn nhưng ở những con chó khác thì lại yếu hơn. Khi vừa mới bắt đầu bị mắc bệnh, nhiệt độ cơ thể của chó tăng lên đến 39,5oC - 40 oC, nhiêệ độ như vậy kéo dài trong 2 đến 3 ngày liền, sau đó dần dần nhiệt độ hạ xuống mức bình thường.

Đối với những con chó khoẻ thì đến đây ta có thể nói là đã kết thúc bệnh tật và dần dần hồi phục là sức khoẻ, nhưng đối với những con chó yếu thì sức khoẻ bề ngoài tưởng là bình phục nhưng nhiệt độ lại bỗng dưng tăng lên đến 40oC - 41oC và sự thương tổn các niêm mạc lại trầm trọng hơn. Nước mũi chảy ra nhiều, biến thành mủ và có màu sắc vàng - xanh, 2 mí mắt khép lại, chó sợ ánh sáng, đôi khi giác mạc mắt vẩn đục. Niêm mạc mũi đỏ lên, phù, nước mũi khô lại và nứt ra. Chó hắt hơi, mũi cọ vào chân, hay liếm mép. Sau đó nước mũi lại chảy ra, lúc đầu trong, sau đó là chất mủ. Nước mũi chảy ra bịt kín các ngách mũi, đóng thành vảy xung quanh vành mũi làm cho chó rất khó thở.

Nếu bệnh tiến triển theo chiều hướng nặng thêm thì chó sẽ bị ho. Lúc đầu chó ho khan, đau cổ, sau đó ho ẩm và có đờm. Khi chó bị thương tổn đường hô hấp sâu thì chó sẽ bị viêm phế quản - phổi, nhịp thở khoảng từ 60 - 80 trong 1 phút, nước mủ từ mũi chảy ra, có màu xám - vàng - xanh và mùi rất khó chịu. Chó ho đau đơn, 2 má sưng to lên, đi lại rất khó khăn, nằm rên, không ăn uống gì. Khi bị bệnh dịch hạch chó đang bị táo bón cũng nhanh chóng chuyển sang tình trạng đi tháo dạ. Phần lớn các trường hợp bệnh đau dạ dày - ruột lại tiến triển như bị viêm dạ dày - ruột rất nặng và thường là chó bị chết.

Lúc bệnh ở thời điểm cao độ hoặc lúc trạng thái cơ thể đã bắt đầu khá lên thì xuất hiện sự thương tổn hệ thần kinh: chó khó chịu, hay sợ hãi, sự cảm giác giảm sút hoặc sự kích thích các cơn co giật của các nhóm cơ khác nhau tăng lên. Thông thường các cơn đau thần kinh kết thúc bằng các được cắt các cơ quan riêng biệt, tức là ở chó có thể xuất hiện sự rối loạn chuyển động, hoặc bị mù, bị điếc, hoặc mất cảm giác khứu giác, sa lưỡi, tứ chi và đuôi bị bại liệt. Bệnh dịch hạch có thể có dạng rất dễ nhận ra dấu hiệu của bệnh, ví dụ như bệnh đau dạ dày - ruột, bệnh thuộc về các cơ quan hô hấp hoặc bệnh thuộc về hệ thống thần kinh trung ương.
 

CHỐNG BỆNH DỊCH HẠCH Ở CHÓ 
Cần phòng cho chó tránh khỏi bệnh truyền nhiễm (virus bệnh dịch hạch). Nuôi dưỡng chó nghiệp vụ ở những nơi kín, không cho tiếp xúc với chó lạ, mèo lạ hoặc các động vật khác dễ bị mắc bệnh dịch hạch. 

Hàng năm các bộ phận thú y chuyên khoa phải đặt ra thời gian tiêm phòng cho chó để chống bệnh dịch hạch. Có thể tiêm phòng dịch cho chó con ngay từ khi chúng bước sang tháng tuổi thứ 3.

Phải đặc biệt quan tâm đến những con chó gầy yếu và bị rối loạn hệ thần kinh mặc dù không đáng kể, phải xem xét kỹ chúng như những con vật có khả năng truyền virus.

Cần giúp cơ thể chó chống lại các bệnh truyền nhiễm. 
Khi phát hiện thấy các dấu hiệu của bệnh dịch hạch hoặc nghi ngờ một số con chó đã mắc bệnh dịch hạch thì phải mau chóng tách chúng ra khỏi các con chó đang khỏe và nuôi cách ly. Những con chó con thì phải theo dõi và đo nhiệt đô cho chúng hàng ngày vào buổi sáng và buổi chiều. Sau mỗi lần đo nhiệt độ cho chó cần sát trùng bằng dung dịch natri hydro

Tất cả các con chó có nhiệt độ cơ thể tăng thì phải cách ly chúng, mọi hoạt động tập luyện phải ngưng lại và tiến hành tẩy uế chỗ ở của chó một cách cẩn thận. Khí cụ phải sát trùng bằng dung dịch natri hydroxit 2%. Dụng cụ cho ăn và cho uống sau mỗi lần sử dụng phải sát trùng bằng nước sôi.

Khi xuất hiện bệnh dịch hạch phải cho chó ăn tốt hơn, cho chó ở nơi sạch sẽ, khô ráo và có đệm dày. Việc điều trị những con chó bệnh cần tiến hành riêng biệt từng con và phải dưới sự chỉ dẫn của chuyên gia thú y.

Bệnh Herpesvirus Ở Chó. (Canine herpesvirus)

Là một bệnh lây lan mạnh trong đàn chó, do Canine herpesvirus (CHV) thuộc họ virus Herpesviridae gây xuất huyết, tử vong cao cho chó con dưới 2-3 tuần tuổi. Virus CHV lần đầu tiên được phát hiện vào giữa những năm 1960 thế kỷ trước. Cũng là một tác nhân kết hợp gây bệnh Kennel Cough ( Ho ở cũi chó ). 

Bệnh Herpesvirus ở chó non: 
Thời gian ủ bệnh từ 6 đến 10 ngày. Chó con bị lây nhiễm virus ngay trong tử cung của mẹ do chó mẹ mang virus khi giao phối.

Virus xâm nhập vào các tế bào bề mặt của tuyến nhầy, Amidan, họng rồi lan tỏa vào các bộ phân còn lại của cơ thể. Chó con tụt thấp thân nhiệt, kêu la, yếu xỉu, chảy dịch mũi, phân lỏng vàng xanh, mất phản xạ bú mẹ. Viêm và xuất huyết các mao mạch, phủ tạng. Đau mắt, kéo đục thủy tinh thể cùi nhãn.Chó con chết nhanh sau 1-2 ngày phát bệnh. 



Tỷ lệ tử vong cao tới 80% ở chó dưới 1 tuần tuổi. Chó từ 3-5 tuần tuổi sức kháng bệnh cao hơn do khả năng tự điều hòa thân nhiệt nhưng vẫn có thể chết do các triệu chứng thần kinh, liệt vận động hoặc mù mắt.
Viêm và xuất huyết các mao mạch, phủ tạng.
CHV gây chết đột tử chó sơ sinh.
Bệnh Herpesvirus ở chó trưởng thành:
Thường kết hợp cùng gây bệnh Kennel Cough ( Ho ở cũi chó ). Virus lây lan qua giao phối, nhân giống nên gây sảy thai, đẻ non , viêm đường sinh dục, dương vật...

CHV tấn công vào hệ thần kinh, gan, phổi ( hô hấp trên ) của chó, CHV lây lan qua đường sinh dục khi nhân giống.
Dương vật chó nhiễm bệnh Herpes Virus.

Có thể phân lập virus, chẩn đoán bệnh qua các triệu chứng lâm sàng mô tả trên. Kết quả điều trị rất thấp. Vaccine phòng bệnh này hiệu quả rất thấp. Bệnh không lây sang người. 

Phòng bệnh: 
Phòng bệnh chủ yếu bằng giám sát nhân giống, kiểm dịch vận chuyển, đặc biệt các chó giống quý xuất, nhập khẩu.

Ở Châu Âu, từ năm 2003 đã dùng vaccine Eurican Herpes 205 tiêm 2 lần cho chó mẹ : Mũi 1 khi đang hành kinh hoặc mới mang thai, Mũi 2 : 1 hoặc 2 tuần trước khi sinh. Tác dụng phòng bệnh có khả quan.

Vệ sinh môi trường sạch sẽ. Ánh nắng và Các loại thuốc sát trùng thông dụng đều dễ dàng diệt virus ở môi trường.

Bệnh Leptospirosis Trên Chó

1. Đặc điểm
Bệnh Lepto là bệnh truyền nhiễm chung giữa người, gia súc. Trong thể cấp tính chó bệnh thuờng có biểu hiện viêm dạ dày ruột xuất huyết thường ói ra máu và phân sậm màu hoặc gây hoàng đản, nước tiểu vàng sậm tỉ lệ chết có thể đến 60-90%.
Bệnh phát hiện vào năm 1850 trên chó ở Đức. Việt Nam tỷ lệ nhiễm chó tương đối khá cao 80 % cơ sở nuôi chó nghiệp vụ và 20% chó ở hộ dân. 

2. Căn bệnh
  -    Virus thuộc 2 họ chính: Spirochaetaceae trong đó hai giống Borrelia và Trepponema gây bệnh.


  -    Leptospiraceae tiêu biểu là giống Leptospira.
  -    Trong giống Leptospira người ta thường phân thành 2 loại
  -    Leptospira interrogans gây bệnh và Leptospira biflexa không gây bệnh.
  -    Ngày nay người ta biết khoảng 200 serovars Leptospira gây bệnh.
  -    Sức đề kháng: Đề kháng yếu đối với nhiệt độ. Nếu đun 50-550C /1giờ thì lepto bị diệt. Khi ra ngoài gặp nước trung tính và chổ rậm (25 0C) mát, Leptospira sống lâu, nhưng nếu pH nhỏ hơn 6,6 thì khó sống, virus sống lâu trong nước tiểu chó.


 3. Dịch tễ
  -    Tuổi mắc bệnh: Mọi lứa tuổi đều mắc bệnh nhưng bệnh thường gặp trên chó đực.
  -   Chất chứa căn bệnh: Máu thường chỉ chứa Leptospira trong khoảng hơn 1 tuần sau khi nhiễm.
  -    Dịch não tủy: có thể chứa Leptospira trong khoảng 2 tuần.
  -   Đường xâm nhập : Leptospira có thể xâm nhiễm qua niêm mạc đường tiêu hóa, mắt hay qua vết thương ở da. 


4. Cơ chế sinh bệnh
 Sau khi xâm nhiễm Leptospira trong máu, nhân lên mạnh mẽ và gây bại huyết sau đó chúng đến định vị ở những cơ quan ưa thích, nhất là gan, thận. Chính sự định vị ở 2 cơ quan này giải thích cho những biểu hiện bệnh học khác nhau. Leptospira trong giai đoạn bại huyết có thể đến những cơ quan sinh dục gây xáo trộn sinh sản. 

5. Triệu chứng 
Thời gian nung bệnh 5-15 ngày.

 5.1. Dạng cấp tính
  Bại huyết phát triển nhanh sau vài giờ nhiễm, sốt cao 40-410C và suy nhược nặng. Có thể chia làm 2 thể:
-    Thể thương hàn: Vật bệnh có biểu hiện xuất huyết trầm trọng viêm kết mạc mắt với nhũng điểm xuất huyết ở da và niêm mạc, ói ra máu và phân sậm màu có máu, thú bị mất nước rất nhanh và chết trong 24 ngày cùng với giảm thấp thân nhiệt, thường thấp hơn bình thường.
-    Thể hoàng đản : Chó bệnh có biểu hiện viêm kết mạc mắt, hoàng đản, vàng da khó thở tăng dần cùng với kém ăn, ói mửa, nếu không chữa trị trong giai đoạn cuối chó có sự tăng cao nhiệt độ khó thở, hơi thở hôi. Tiêu chảy đôi khi xuất huyết và những biểu hiện viêm não trước khi hắt hơi, thú chết trong khoảng 5-8 ngày mắc bệnh.
  


Hình 1. Chó bị tiêu chảy ra máu 
6.2. Thể bán cấp tính và mãn tính.
  -    Thể này tương ứng với sự phát triển hội chứng sinh urea huyết hậu quả của viêm thận mà một trong những biểu hiện là chứng tiểu nhiều, chứng khát nước rất nhiều cùng với ói mửa và tiêu chảy. Sau một thời gian hôn mê do urea huyết chó sẽ chết.
  -    Thể thở khó có mùi urea ở miệng và xáo trộn hô hấp –viêm màng móng mắt, viêm cơ.


7. Bệnh tích
  7.1. Thể cấp tính
  -    Thể thương hàn:
  + Viêm dạ dày ruột xuất huyết.
  + Xuất huyết da và các niêm mạc.
  + Có thể gặp gan sưng, hạch bạch huyết xuất huyết
  -    Thể hoàng đản:
  + Da vàng ở bụng, gang bàn chân, lỡ tai.
  + Niêm mạc vàng.
  + Bàng quang chứa nhiều nước tiểu vàng sậm và có thể xuất huyết. 

7.2. Thể bán, mãn tính. 
-    Viêm thận kẻ hay viêm thận mãn tính.
-    Vết lở ở miệng và lưỡi có thể gặp trên chó có urea trong máu.


Hình 2. Viêm thận mãn tính (a) Thận chó binh thường: (b) thận chó bệnh


  

                                                           Hình 3. Vết lở ở miệng và lưỡi
8. Chẩn đoán: 
 Dựa vào việc nuôi cấy phân lập Leptospira và phương pháp huyết thanh học ta có thể chẩn đoán chắc chắn hơn. 

9. Chẩn đoán phân biệt
  -    Trong trường hợp hoàng đản cần chẩn đoán phân biệt với trường hợp trúng độc tố nấm mốc (Aflatoxin) trúng độc chất hoặc do nhiễm vi trùng gây dung huyết mạnh.
  -    Trong trường hợp xáo trộn tiêu hóa ói mửa và phân có máu cần phân biệt với bệnh Carré, Parvo.
  -    Bệnh Carré: Sốt cao, kèm theo triệu chứng viêm phổi tiêu chảy ra máu nhưng mức độ tiêu chảy ít hơn. Thời gian mắc bệnh kéo dài hơn. Vào giai đoạn cuối xuất hiện triệu chứng nổi mụn mủ ở vùng da mỏng, triệu chứng thần kinh xuất hiện.
  -    Bệnh Parvo: Tiêu chảy ói mửa dữ dội, ít khi kèm theo triệu chứng hô hấp.

10. Điều trị 
Dùng kháng sinh chống phụ nhiễm
Các liệu pháp hổ trợ: 
  -    Cấp nước, chất điện giải, tăng cường sức đề kháng: Dùng dung dịch Lactated Ringer 20-500 ml/ngày, tùy theo mức độ mất nước và thể trạng. Truyền thêm glucose 5% để cung năng lượng. 


11. Phòng bệnh
  -    Cách ly chó khỏe với chó bệnh.
  -    Không cho chó khỏe tiếp xúc với phân của chó bệnh.
  -    Vệ sinh sát trùng sạch sẽ nơi ở của chó để tránh lây lan mầm bệnh.
  -    Phòng bệnh bằng vaccin.

Dr. Hải
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com