Latest Post

Showing posts with label Gia Suc. Show all posts
Showing posts with label Gia Suc. Show all posts

Hướng Dẫn Các Biện Pháp Chống Nóng Cho Bò, Bò Sữa

Written By Chăn Nuôi on Saturday, June 29, 2013 | 1:18 AM

Đặc tính sinh lý của bò, nhất là bò sữa là chịu nắng, nóng kém do vậy khi thời tiết nắng nóng bò sẽ phát sinh nhiều bệnh, sức khỏe giảm. Theo dự báo của Cục khí tượng thủy văn thời gian tới thời tiết, khi hậu có nhiều diễn biến phức tạp, khả năng nhiệt độ lên cao, thời gian kéo dài.

Để đảm bảo chống nóng cho đàn trâu bò, bò sữa, cần thực hiện tốt một số biện pháp như sau:

1. Chuồng trại:
  • Nên làm chuồng gia súc xa nhà dân, khu dân cư.
  • Mái chuồng nên làm đơn giản, có thể bằng mái ngói, tranh, tre, lá,... song chống được nóng trực tiếp. Nếu có điều kiện nên làm chuồng theo kiểu chuống 2 mái để tăng cường độ thoáng của chuồng nuôi.
  • Phần mái có thể làm thêm hệ thống chống nóng cho mùa hè bằng cách trồng một số loại dây leo phủ mái như dây bìm bìm, hoâ giáy, muớp ...
  • Hệ thống che chắn xung quanh chuồng làm các loại liếp bằng lá, tranh tre tạo sự thông thoáng. Tuy nhiên cũng cần lưu ý trong những ngày nắng nóng thường có những trận mưa đột xuất, nhất là vè đêm cần nhanh chóng che chắn để đảm bảo cho bò không bị nhiễm lạnh đột ngột (nhiều trường hợp bò bị cảm trong trường hợp nhiễm lạnh đột ngột do thay đổi thời tiết do mưa lạnh).
  • Diện tích chuồng nuôi bò sữa tối thiểu đảm bảo 6 - 7 m 2/con.
  • Mái hiêu cách mặt đất tối thiểu 2 m, nền chuồng đảm bảo cao, ráo rễ thoát nước, làm theo hướng Đông - Nam là tốt nhất.
  • Tăng cường trồng các loại cây xanh xung quanh khu vực chuồng nuôi để tạo bóng mát và có thể nhốt bò, bò sữa trong những ngày nắng nóng. 
2. Mật độ nuôi:
  • Trong mùa hè nên giảm mật độ nuôi, nhất là đối với bò sữa, người chăn nuôi có thể mở rộng hệ thống chuồng hoặc trong những ngày nắng nóng có thể nhốt bò ở những nơi có nhiều cây, bóng mát. Đối với bò sữa cần tối thiểu 6-7m2 diện tích chuồng cho 1 con..
  • Số lượng máng ăn, máng uống trong mùa hè cũng cần được tăng cường thêm để đảm bảo cho bò, bò sữa ăn uống đầy đủ.
3. Chống nóng chuồng nuôi:
Quạt thông gió: Nên đặt quạt thông gió theo thế nằm ngang, quạt theo hướng gió thổi, độ cao của quạt ở ngang tầm lưng của gia súc. Mục đích của quạt là làm giảm ẩm độ các khí CO2, NH3, ... có trong chuồng nuôi. Quạt treo từ trần chuồng thổi gió xuống dưới hiệu quả chống nóng thấp vì thường thổi khí nóng từ mái chuồng xuống gia súc.

Đối với chuồng kín cần cải tạo cho thông thoáng hoặc đặt quạt thông gió để tăng cường đối lưu không khí, giảm nhiệt độ và khí độc trong chuồng.

Giàn mưa, phun ẩm: Nên có hệ thống phun mưa lên nóc chuồng nuôi, nhằm giảm nhiệt độ mái chuồng lúc trời nắng to khi nhiệt độ bên ngoài trời lên cao trên 35-400C. Khi phun mưa cần quan tâm đến việc tăng cường thông gió và thoát nước ở xung quanh chuồng để tránh nâng cao ẩm độ trong chuồng.

4. Công tác vệ sinh phòng bệnh mùa hè:
  • Tăng cường vệ sinh tẩy uế chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi. Nền chuồng phải sạch, khô ráo, cống rãnh phải sạch, không đọng phân, nước. Hạn chế phát sinh ruồi, muỗi, rận... trong mùa hè.
  • Định kỳ phun thuốc sát trùng để chống ve, mòng, ruồi, muỗi, bọ mạt... là những tác nhân truyền và gây bệnh trong mùa hè (dùng các loại thuốc thông dụng như Vikol, Hanamid, HanIod, Hantoc ...).
  • Đảm bảo việc tiêm phòng định kỳ các loại vác xin theo hướng dẫn của cơ quan thú y như lở mồm long móng, tụ huyết trùng, nhiệt thán
  • Thường xuyên phát hiện sớm các gia súc ốm, bị bệnh để cách ly, điều trị, xử lý kịp thời tránh để bênh lây lan rộng. Cần quan tâm nhất là các bệnh đường ruột và tiêu hoá bằng cách chủ động cho gia súc ăn, uống thuốc ở liều phòng bệnh.
5. Chế độ cho ăn, nước uống:
Những ngày nắng nóng nhiệt độ, ẩm độ trong chuồng nuôi cao, cơ thể gia súc, gia cầm phải chống đỡ với những điều kiện bất lợi đó, thường bỏ ăn, uống nhiều. Cần phải thực hiện một số biện pháp sau:
  • Tăng cường khẩu phần ăn xanh như rau cỏ tươi, củ, quả và các loại vitamin..., tăng cường khẩu phần đạm, giảm tinh bột, mỡ, đường trong khẩu phần.
  • Những đợt nắng nóng kéo dài, thực hiện chế độ chuyển bữa ăn, thức ăn tinh, thức ăn hồn hợp thường cho ăn vào ban ngày chuyển sang cho ăn vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát trong ngày.
  • Đảm bảo thường xuyên có đủ nước mát cho gia súc, gia cầm uống, không làm ẩm ướt nền chuồng. Tốt nhất nên lắp các thiết bị tự động để luôn cấp đủ nước sạch cho bò uống.
Lưu ý: đối với bò sữa 1 ngày bò có thể uống tới 30 - 40 lít nước.
  • Để chống Stress cho bò những ngày nắng nóng cần bổ sung vào nước uống vitamin C, các chất điện giải hoặc nước pha muối với nồng độ 1% (10-15g muối/1 lít nước).
  • Về thức ăn, đảm bảo cho bò ăn đủ cỏ xanh, rơm (15 - 25kg/con/ngày) và bổ sung thêm thức ăn tinh (1 - 2,5kg/con/ngày).
  • Đối với bò sữa bổ sưng cho bò ăn thức ăn xanh, cỏ ủ chua (3 - 5kg/con/ngày0 là rất tốt. Có thể áp dụng việc bổ sung urê cho bò sữa nhằm mục đích bổ sung chất đạm vô cơ cho bò.
Cách làm như sau: cho trâu bò ăn rơm ủ urê, hoặc dùng urê với lượng 2- 3g/10kg khối lượng cơ thể bò. Hòa tan urê với nước vảy vào cỏ hoặc rơm cho trâu bò ăn (2 - 3 lần/ngày). Lưu ý tuyệt đối không hòa urê cho trâu bò uống trực tiếp như vậy sẽ gây hiện tượng ngộ độc urê cho trâu bò.

6. Chế độ tắm, chải, vận động.
Đối với bò, bò sữa, trong mùa nóng nên định kỳ tắm chải để giảm nhiệt cho cơ thể và vệ sinh thân thể phòng chống các bệnh ngoài da (dùng các loại dung dịch pha để diệt côn trùng, ruồi muỗi). Khi tắm cho bò không để bò lạnh quá đột ngột làm bò nhiễm lạnh gây bệnh.

Lưu ý: Đối với bò sữa có chửa khi được làm mát tốt, bê con sinh ra sẽ nặng hơn (2 - 3 kg) so với không được làm mát. Việc làm mát tốt còn làm tăng sản lượng sữa, tăng khả năng thụ thai khi phối giống cho bò.

Trong những ngày nắng nóng vẫn phải đảm bảo việc chăn thả, vận động cho bò, bò sữa song nên thay đổi thời gian so với bình thường. Buổi sáng cho bò vận động, chăn thả trong khoảng thời gian từ 6 - 9 giờ, buổi chiều từ 16 - 18 giờ, những ngày thời tiết quá nắng nóng có thể sớm hơn, muộn hơn 1 giờ để đảm bảo sức khỏe cho bò.

Hạn chế đến mức tối đa trong việc vận chuyển, chu chuyển đàn bò, bò sữa trong những ngày nắng nóng.

7. Chế độ vệ sinh, sát trùng sau các đợt nắng nóng kéo dài:
Sau những đợt nắng nóng kéo dài thường làm cho trâu bò, bò sữa mệt mỏi, tăng tỷ lệ bệnh tật, giảm sản lượng sữa ... vì vậy cần có kế hoạch tăng cường chất dinh dưỡng nhất là về vitamin, khoáng chất, cỏ xanh, tinh bột.

Đối với chuồng trại, dụng cụ chuồng nuôi cần tiến hành tổng vệ sinh, tẩy uế chuồng trại, dụng cụ, thay thế chất độn chuồng dùng trong đợt nắng nóng.

Chăm Sóc Bò Sữa Bị Stress Nhiệt

Bò ở Manitoba phải trải qua cả stress nóng và stress lạnh theo từng đợt của thời tiết trong năm. Trong những tháng mùa đông, stress lạnh xuất hiện do cả nhiệt độ và gió gây ra. ở những tháng mùa hè, stress nóng xuất hiện do chỉ số nhiệt độ - độ ẩm (THI), một hỗn hợp gồm cả yếu tố nhiệt độ và độ ẩm gây ra. Ví dụ: THI của một ngày có nhiệt độ là 240C và độ ẩm 85% là 74. Một ngày khác có nhiệt độ 290C với độ ẩm 15% thì chỉ số THI là 72. Khi chỉ số THI vượt quá 72 bò sẽ bị stress nóng. Do vấy có thể đánh giá rằng bò ở miền Tây Canada trải qua stress nóng ở nhiều mức độ khác nhau trong 40% tổng số ngày hè.

Stress nóng gây thiệt hại về tiền của. Trong những ngày nóng nực lượng thức ăn ăn vào của bò bị giảm 10-12% hoặc nhiều hơn. Điều này dẫn đến giảm sản lượng sữa, năng suất sinh sản thấp và gây ra nhiều rắc rối trong các vấn đề chuyển hóa của cơ thể. Một điều dễ hiểu là có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề chăm sóc và quản lý bò sữa bị stress nóng đã và đang được tiến hành ở miền Nam nước Mỹ, nơi bò phải trải qua stress nóng trong khoảng thời gian rất dài trong năm. ở Manitoba, stress nóng có chiều hướng xuất hiện theo từng giai đoạn hơn là xảy ra liên tục. Tuy nhiên, nghiên cứu tại trường đại học Manitoba của Dr. Kim Ominski lại cho thấy rằng ảnh hưởng của stress nóng có thể để lại hậu quả lâu dài. Bò được đưa ra thí nghiệm ở các pha có nhiệt độ ôn hoà (3 ngày), pha stress nóng (5 ngày) và pha hồi phục (7 ngày). Sự phản hồi của hiện tượng stress nóng tới lượng thức ăn ăn vào và năng suất sữa không xảy ra ngay tức thì. Lượng thức ăn ăn vào bắt đầu giảm khi bò được đưa vào thử thách với điều kiện trời nóng, nhưng chỉ tiêu này giảm thấp nhất là ở ngày thứ 4 của pha stress, khi lượng thức ăn ăn vào thấp hơn 9% so với thời gian có nhiệt độ ôn hoà. Sự giảm lượng thức ăn ăn vào kéo dài tới tận ngày thứ 4 của pha hồi phục. Năng suất sữa giảm nhiều nhất (3,5kg/ngày) chỉ xuất hiện vào ngày thứ 1 của pha hồi phục. Sản lượng sữa giảm đến ngày thứ 7 của pha hồi phục, dẫn đến tổng sản lượng sữa giảm 8,3%. Dr. Ominski đã tính toán giá trị kinh tế của việc giảm năng suất là $0,44/bò/ngày và $1,78/bò/ngày trong các pha stress nóng và pha hồi phục, tương ứng.

Có một số chiến lược mà những người chăn nuôi bò sữa có thể thực hiện để làm giảm các tác động của stress nóng trong mùa hè ở Manitoba:

1. Tăng độ đậm đặc của dinh dưỡng trong khẩu phần ăn để bù vào sự giảm sút số lượng thức ăn ăn vào.
                * Ví dụ: khẩu phần ăn chứa 16% protein khô với lượng thức ăn ăn vào 22kg/ngày sẽ phải điều chỉnh lại thành 17,6% protein thô nên lượng thức ăn ăn vào giảm xuống chỉ còn 20kg. Tránh cho ăn khẩu phần có mức protein vượt quá sự cho phép bởi vì sự quá mức này sẽ sản sinh nhiệt, đồng thời sử dụng năng lượng dành cho việc sản sinh ra sữa.
                * Các loại hạt giàu năng lượng và chất béo (ví dụ như ngô) và/ hoặc việc tăng hàm lượng có thể được xem như là một cách để làm tăng năng lượng. Chú ý theo tỷ lệ đã hướng dẫn khi điều chỉnh khẩu phần.
                * Cho ăn cỏ chất lượng cao trong suốt stress nóng. Cỏ chất lượng cao có tính ngon miệng cao hơn, nhiều chất dinh dưỡng hơn và sản sinh nhiệt ít hơn trong quá trình tiêu hoá.

2. Cung cấp nước sạch, tươi mát một cách không hạn chế. Lượng nước thu nhận của bò tăng một cách đáng kể trong thời gian bị stress nóng. Đựng nước vào trong bát và/ hoặc máng để khuyến khích bò uống nước, đồng thời giữ cho nước sạch. Che mát cho các máng nước giúp cho bò uống nhiều nước hơn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bò uống nước mát sẽ làm dịu cơ thể và tăng lượng thức ăn ăn vào.

3. Tăng số lần cho ăn trong ngày. Cho ăn thường xuyên là một cách để đảm bảo lượng thức ăn cung cấp luôn sạch, kích thích tính tò mò của bò và khuyến khích bò ăn thường xuyên hơn.

4. Giữ dụng cụ cho ăn sạch sẽ. Dọn dẹp các thức ăn thừa hàng ngày. Làm sạch các thức ăn nóng và nguội còn lại ở các góc và bên rìa. Điều này giúp cho việc làm tăng tính ngon miệng và làm giảm số lượng ruồi bâu đến.

5. Cho ăn vào ban đêm là một phương pháp quản lý phổ biến ở những vùng hay gây ra stress nóng như miền Nam của Mỹ. Cho ăn vào buổi tối cho phép nhiệt độ tạo ra trong quá trình tiêu hoá được tiêu tan đi do lúc đó thời tiết mát mẻ. 60-70% khẩu phầ được cho ăn từ 8 giờ tối đến 8 giờ sáng ngày hôm sau đã làm tăng sản lượng sữa trong điều kiện thời tiết nóng. Tuy nhiên, trường đại học Manitoba đã khám phá ra rằng việc làm trên đây không có tác dụng làm giảm sự mất mát về năng suất trong một khoảng thời gian ngắn, khi con bò đang ở giai đoạn bị stress nóng.

6. Nhu cầu về Na, K, Mg tăng trong suốt thời gian bị stress nóng. Khẩu phần ăn cho bò sữa bị stress nóng nên bao gồm 1,5% K; 0,5% Na và 0,35% Mg.

7. Giữ bò trong điều kiện mát mẽ tới mức tối đa có thể. Cung cấp điều kiện che mát, đảm bảo chuồng trại vệ sinh với độ thông khí tốt (như dùng quạt). Phun nước nhẹ cũng là một phương pháp tốt để làm mát cho gia súc.

8. Cho ăn các thức ăn bổ trợ như men (bia, rượu) và Aspergillus oryzae mang lại các kết quả rất khác nhau trong việc ngăn chặn sự giảm lượng thức ăn thu nhận và năng suất sữa do stress nóng gây nên. Nghiên cứu tại trường đại học Manitoba cho thấy việc bổ sung Aspergillus oryzae, một loại nấm trồng, không làm giảm nhiệt độ cơ thể hay ngăn chặn sự sụt giảm năng suất sữa.

Nguồn: vcn.vnn.vn

Chuồng Trại Trong Chăn Nuôi Bò Sữa

Chuồng trại được làm mát theo chiều ngang các ô nằm cho bò bằng thép bán định hình.

Một nghiên cứu kéo dài trong hai năm về các Chuồng trại được làm mát theo chiều ngang các ô nằm cho bò bằng thép bán định hình đã củng cố thêm sự tin tưởng rằng các trang trại kiểu này mang lại nhiều lợi ích tiềm tàng cho các nhà sản xuất sữa, nhưng vẫn còn nhiều thách thức về thiết kế. Tiến sĩ J. P. Harner, và Tiến sĩ J. F. Smith,, Trường Đại học Bang Kansas, đưa ra các kết luận về nghiên cứu của họ. Bài viết này được thực hiện từ các tài liệu của Hội thảo về Sữa ở Cao nguyên. Tài liệu đầy đủ về báo cáo này được cung cấp ở dưới dưới đây:


Tập đoàn Sữa MCC ở Nam Dakota đã đi vào điều hành khu trại LPCV lớn đầu tiên hồi mùa thu năm 2005. Trước đó, tập đoàn này và có thể cả các đơn vị khác, đã sử dụng việc làm thông thoáng gió theo ngang của các ô nằm cho bò khi sửa chữa 4 dãy chuồng thành 8 dãy trong một nhà trại. Các nhà trại LPCV  đang được xây dựng hoặc hiện tại đang vận hành ở 7 bang khác nhau và đang được xem xét ở 10 bang nữa. Khắp miền Bắc nước Mỹ, ý tưởng thiết kế của LPCV, các nhà trại rộng đã được mở rộng từ có từ 8 dãy chuồng lên đến 24 dãy chuồng. Việc lựa chọn các chuồng trại có từ 12 và 16 dãy chuồng có các hố nằm cho bò hiện đang là việc lựa chọn thông thường.

Hình 1. mặt đứng cuối trại có 8 dẫy chuồng nuôi được thông thoáng gió theo chiều ngang của các hố nằm của trang trại:


Hình 1 cho thấy mặt đứng cuối trại của LPCV có 8 dãy chuồng nuôi. Các tấm làm mát được đặt dọc theo nhà trại và các quạt hút gió được đặt ở phía đối diện. Có nhiều không gian hơn sẵn có cho việc lắp các quạt và các tấm làm mát khi đặt song song với phần nóc hơn là bố trí chúng theo chiều thẳng đứng, vì thông thường các thiết bị hoặc cửa ra vào bố trí ở mặt cuối của chuồng. Hình 2 cho thấy cách bố trí của một nhà trại LPCV có 8 dãy chuồng nuôi cuối dãy nối với cuối dãy. Nhìn từ trên xuống, thiết kế này đơn giản chỉ là bố trí các nhà trại có 4 dẫy chuồng nuôi cạnh nhau và loại bỏ không gian giữa các nhà trại để thông thoáng tự nhiên. Một lợi thế tiềm năng của các trại của LPCV hoặc các trại được thông thoáng gió kiểu hình ống là các con bò được tiếp nhận gió với vận tốc gió không đổi. Bên trong nhà trại, vận tốc gió hoặc tốc độ gió thường đạt dưới 8 mph trong khi lưu lượng gió đạt mức cao nhất. Mức độ thông gió sẽ được giảm đi trong thời tiết lạnh tại mỹ với tốc độ gió giảm thấp hơm 2 mét/giờ.

Hình 2. Mặt bằng bố trí tiêu biểu của một trại có 8 dãy chuồng nuôi được thông thoáng gió cắt ngang ô nằm của bò. Chiều dài nhà trại có thể điều chỉnh căn cứ vào số lượng bò. 


Chất lượng khí bên trong nhà trại LPCV đã được đánh giá trong hai đợt nghiên cứu trong năm 2006 tại nhà trại ND của tập đoàn sữa MCC. Lượng bụi thải dạng hạt từ 3 mẫu lấy là 78,2 ppm ở gần cuối chuồng bò phía đông, 74,8 ppm ở giữa chuồng bò, và 94,8 ppm ở gần cuối chuồng bò phía tây. Các số liệu này nằm trong khoảng từ 10 đến 100 lần ít hơn lượng bụi từ các chuồng nuôi gia cầm và nuôi lợn (Jerez et al., 2006). Qua so sánh, các tiêu chuẩn Chất lượng không khí quốc gia (NAAQS) của Cơ quan Bảo vệ Môi trường của Mỹ (USEPA, 1987) đưa ra giới hạn về nồng độ bụi PM10 sơ cấp và thứ cấp đối với giai đoạn lấy mẫu trung bình 24 tiếng tới 150 ppm. Mục đích của tiêu chuẩn sơ cấp này là bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tiêu chuẩn thứ cấp là để bảo vệ cộng đồng khỏi phải chịu những ảnh hưởng xấu đã biết hoặc đã dự đoán trước. Các giá trị này đạt được từ lĩnh vực này là thấp hơn tiêu chuẩn hiện tại. Lượng bụi phát thải đã được thu gom lại trong nhà trại LPCV khi sử dụng lớp lót đệm bằng cát. Nghiên cứu thêm là cần thiết để kiểm tra xem lượng bụi phát thải có cao hơn không khi lớp lót đệm hữu cơ, như phân khô hoặc mùn cưa được sử dụng. 

Đo Lượng khí thải thoát ra bằng máy UV. Đã phát hiện thấy trong khí phát thải ra từ LPCV chủ yếu là khí có chứa ni-tơ (NH3, NO2, NO) trong các đợt thử nghiệm vào mùa xuân và mùa hè. Hàm lượng khí amoniac và mức độ phát thải được cho là lớn nhất trong mùa xuân và dưới mức thông thoáng thấp nhất đã được kiểm tra (420.000 cfm; Bảng 1). Nồng độ NH3 trung bình quan sát được ở đây (mùa xuân = 1219 ±) 5 ppb; mùa hè = 1117 ± 4 ppb) đạt thấp hơn các mức mà Zhoa et al. (2005) và Mutula et al. (2004) báo cáo là 0,3 – 3,0 ppm và 36 – 51 ppm tương ứng, từ các trại có chuồng nuôi được thông thoáng gió tự nhiên ở Ohio và Texas.

Bảng 1. Nồng độ khí và mức phát thải trung bình từ một trại bò được thông gió có kết cấu thấp nuôi 800 con bò.
Mùa
Mức thông thoáng
NH3 (ppb)
NO2 (ppb)
NO (ppb)
Mùa Xuân
Thấp
1.370
445a
8ab
Trung bình
1.181b
296
27
Cao
1.108a
417a
0a
Mùa hè
Thấp
1.084a
176b
0a
Trung bình
1.157b
145b
4b
Cao
1.112a
155b
0a
abc trong cột có nghĩa là không có sự khác biệt ký tự trên thông thường
(P< 0,05) sử dụng các khác biệt trong Phương pháp bình phương tối thiểu (Least Squares Means)

Kết luận
 Các trại nuôi có chuồng nuôi được thông gió có không gian thấp vẫn còn đang trong giai đoạn tìm hiểu thiết kế và vận hành tối ưu ban đầu. Rõ ràng là các trại nuôi này mang lại rất nhiệu lợi ích tiềm ẩn cho các nhà sản xuất sữa. Một trong số các lợi ích này là khả năng kiểm soát môi trường sống cho bò trong tất cả các mùa của năm.

Thách thức lớn nhất ở đây là làm thế nào để quản lý được các kết cấu này trong những tháng mùa đông. Các trại nuôi được thông thoáng gió có không gian thấp có các tiềm năng rất lớn; tuy nhiên, các kỳ vọng hợp lý cần được xem xét cân nhắc khi thiết kế các kết cấu nhà trại LPVC đối với môi trường khí hậu đã biết trước. Các thách thức về thiết kế vẫn còn khi các nhà sản xuất tìm cách để tối ưu hóa các nhà trại này nhằm đáp ứng các mục tiêu về tài chính và điều kiện thoải mái cho bò nuôi của họ.

Nguồn: Dairy Vietnam

Ảnh Hưởng Của Stress Nhiệt Lên Sinh Lý - Sinh Sản Bò Lai Hướng Sữa...

ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS NHIỆT LÊN SINH LÝ -  SINH SẢN BÒ LAI HƯỚNG SỮA (HF) VÀ BÒ HÀ LAN THUẦN NHẬP NỘI  NUÔI TẠI KHU VỰC PHÍA NAM
Đinh Văn Cải  Hồ Quế Anh, Nguyễn Văn Trí

Khu vực thành phố Hồ Chí minh có nhiệt độ trung bình năm 28,3 độ C và ẩm độ 73,3%, giá trị THI (Temperature Humidity Index) trung bình đạt 79,3, cao nhất là 93,76%. Khả năng chống chịu nóng ẩm bò F1>F2>F3>HF thuần. Khi THI chuồng nuôi từ 82 trở lên các nhóm bò thuần HF và bò lai HF năng suất cao (>= 15kg/ngày) thể hiện dấu hiệu stress nhiệt rất rõ. Giải pháp đơn giản khắc phục tress nhiệt là thiết kế chuồng nuôi thông thoáng và sử dụng quạt gió công suất cao để làm mát cho bò. Phun nước vào chuồng sẽ làm tăng thêm ẩm độ vì vậy không làm giảm THI chuồng nuôi.

1. Đặt vn đề
Những nước, những khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới đều gặp khó khăn khi nuôi bò HF đặc biệt là những bò thuần nhập từ ôn đới. Nhiệt độ và ẩm độ môi trường cao làm cho con vật khó duy trì được thân nhiệt và gây ra strees nhiệt.. Đã có nhiều nghiên cứu rất sớm về stress nhiệt ở bò sữa HF thuần nuôi tại xứ nóng  Moule GR (1954); Dutt RH (1963); Roberts và CTV (1971); Stott GH và ctv (1972); Collier RJ và ctv (1980); Thatcher WW (1984); Flamenbaum I và ctv (1995); Wolfenson D và ctv (1995), Gelsert RD (1988); Mayer DG, Drost M (1999)…. Năm 1990 Dr. Frank Wiersma (trường đại hoc Arizona) đã đưa ra chỉ số kết hợp ẩm độ, nhiệt độ môi trường là THI (temperature-humidity index) và chỉ ra rằng khi giá trị THI từ 72 trở lên là bò HF đã có dấu hiệu stress nhiệt.

Việt Nam vào những tháng nắng nóng, nhiệt độ và ẩm độ cao (trung bình là 27 oC và ẩm độ 80%) là trở ngại lớn đối với bò sữa. Trong khi đàn bò sữa tiếp tục tăng cao máu HF và gần đây chúng ta nhập nội hàng nghìn bò sữa thuần, nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến ảnh hưởng của stress nhiệt lên bò sữa. Báo cáo này là kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường thông qua chỉ số THI đến một số chỉ tiêu sinh lí và sinh sản của bò sữa nuôi tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh.


2. Ni dung và phương pháp nghiên cu


45 bò lai HF trong đó 15 con F1 (50%HF); 15 con F2 (75%)HF và 15 con F3 (87,5%)HF tại 4 trại chăn nuôi bò sữa ở Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh) và Long Thành (Đồng Nai) và 40 con bò HF thuần nhập từ Uùc (tháng 8/2002) nuôi tại trại An Phú thuộc công ty bò sữa thành phố Hồ Chí Minh được chọn để theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm từ tháng 10/2001 đến hết tháng 12/2003.


Trong nội dung: Khảo sát điều kiện môi trường và ảnh hưởng của môi trường đến các chỉ tiêu sinh lý và sản xuất sữa. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:  Đo nhiệt độ, ẩm độ môi trường ngoài và trong chuồng nuôi đồng thời với đo nhiệt độ cơ thể, nhịp tim, nhịp thở để tìm mối quan hệ giữa THI với các chỉ tiêu sinh lí và năng xuất sữa của bò. Chỉ số THI (temperature-humididy index) tính theo công thức của Dr. Frank Wiersma (1990). Số liệu được thu thập tuần 2 ngày, ngày 04 lần vào các thời điểm: 9h, 12h, 15h và 18h. Theo dõi liên tục cả hai muà mưa và muà khô. Sử dụng máy đo thân nhiệt điện tử hiệu Pro Check của Switzerland. Máy đo ẩm độ nhiệt độ hiệu Q.C Passed 4 do Đài Loan sản xuất. Đo nhịp tim (lần/phút) bằng cách dùng tay bắt mạch ở khấu đuôi bò thí nghiệm. Đo nhịp thở (lần/phút) đếm bằng mắt thường thông qua hoạt động lên xuống của hõm hông bò thí nghiệm. Đo nhiệt độ bằng nhiệt kế đặt sâu trong trực tràng bò 5 phút.


Trong thí nghiệm . Nghiên cứu một số biện pháp cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi để khắc phục những ảnh hưởng stress nhiệt đối với của bò sữa. Thí nghiệm tiến hành trên 30 bò thuần HF đang cho sữa tháng thứ 2-3 với sản lượng trung bình 15kg/con/ngày. Sử dụng biện pháp phun nước trên mái và quạt gió trong chuồng để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến nhiệt độ, ẩm độ, THI chuồng nuôi và mối liên hệ của chúng với một số chỉ tiêu sinh lí, sinh sản và sản xuất sữa của bò HF thuần. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân giai đoạn. Giai đoạn 1 có tác động (phun nước và quạt gió), giai đọan 2 không tác động và giai đọan 3 có tác động. Giá trị trung bình của giai đọan 1 và 3 so sánh với giai đọan 2 để so sánh sự sai khác do tác động của yếu tố thí nghiệm. Mỗi giai đoạn là một tháng.


Tiến hành đo nhiệt độ, ẩm độ môi trường bên ngoài và trong chuồng nuôi đồng thời theo dõi nhiệt độ cơ thể, nhịp tim, nhịp thở vào các thời điểm 12-13h và năng xuất sữa của mỗi cá thể 2 lần trong ngày. Chỉ tiêu sinh San bao gồm: Khoảng cách lứa đẻ; Chu kỳ lên giống; Khoảng cách từ khi sanh đến lần gieo tinh đầu tiên; Khoảng cách từ khi sanh đến lúc đậu thai; Tỉ lệ phối giống/lần đậu thai.


Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học phù hợp cho từng phương pháp thí nghiệm


3. Kết qu và tho lun
3.1. Nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số THI môi trường khu vực miền Đông Nam Bộ
Nhiệt độ, ẩm độ và THI trung bình (tình từ nhiệt độ và ẩm độ trung bình) của 3 địa điểm thành phố Hồ Chí Minh, Bến Cát (Bình Dương) và Long Thành (Đồng Nai) qua 3 năm 2001-2003 được trình bày ở bảng 1. Giá trị THI thấp nhất là 74,6 (tháng 2) và cao nhất là 81,9 (tháng 5). Theo Dr. Frank Wiersma (1990) cho rằng bò HF thuần nuôi tại vùng ôn đới bắt đầu có dấu hiệu stress nhiệt khi giá trị THI đạt từ 72 trở đi. Như vậy, với tháng có THI thấp nhất thì bò nuôi tại Việt Nam vẫn nằm trong khoảng gây stress nhiệt. Số liệu ở bảng 1 chỉ là giá trị trung bình. Nhiệt độ cao nhất có khi lên tới 38,4oC và ẩm độ 69% (tháng 4/2003-thành phố Hồ Chí Minh) thì giá trị THI lên cao tới 93,76 đây là ngưỡng nguy hiểm đối với bò thuần HF.

Bảng 1Nhiệt độ, ẩm độ và THI môi trường tại khu vực thí nghiệm

Tháng
Nhiệt độ
Ẩm độ
THI
1
27.1
67
76.7
2
25.8
66
74.6
3
28.6
68
79.0
4
30
69
81.2
5
30.5
69
81.9
6
28.9
77
80.7
7
28.9
76
80.6
8
27.7
79
79.1
9
28.1
78
79.6
10
27.9
80
79.6
11
27.8
77
79.0
12
28.1
74
79.1
Bình quân
28.3
73.3
79.3
Mùa khô (12-5)
28.35
68.83
78.8
Mùa mưa (6-11)
28.22
77.83
79.8
(Nguồn: khí tượng thuỷ văn khu vực phía Nam)
Nhiệt độ trung bình mùa khô cao hơn mùa mưa (0.13oC), ẩm độ trung bình mùa mưa cao hơn (9%) nên THI mùa mưa cao hơn mùa khô (1.01). Như vậy, khí hậu muà mưa như ta vẫn lầm tưởng là mát mẻ là tốt cho bò nhưng với mức ẩm cao vẫn có thể gây ra tình trạng stress nhiệt ở bò sữa. Nhiệt độ và ẩm độ cao nhất ở các tháng mùa mưa được ghi nhận là 35,1oC và 82% vào tháng 10, khi đó giá trị THI đạt tới 91,5. Tuy chưa cao bằng giá trị cao nhất ở mùa khô (93,76) nhưng đã đạt đến mức báo động.

Bảng 2.  Sự chênh lệch ẩm độ, nhiệt độ và THI giữa các thời điểm trong ngày, giữa chuồng nuôi với môi trường
N = 105
9h
12h
15h
18h
Nhiệt độ môi trường (độ C)
30.2
33.4
32.9
29.9
Aåm độ môi trường (%)
77.4
64.5
63.8
74.6
D nhiệt độ
0.7
1.7
1.2
0.1
D ẩm độ
- 5.9
- 13.5
- 15.7
- 6.5
THI môi trường
82.7
85.1
84.2
81.6
THI chuồng nuôi
82.5
85.4
85.0
82.3

(D = chỉ số môi trường – chỉ số chuồng nuôi)

 Sự biến đổi nhiệt độ và ẩm độ trong ngày (bảng 2) cho thấy vào khỏang thời điểm từ 12h-15h nhiệt độ cao hơn thời điểm 9h và 18h. Khi nhiệt độ tăng cao thì ẩm độ giảm thấp, tuy vậy THI vẫn có giá trị cao nhất vào thời điểm giữa trưa. Cần chú ý chống nóng cho bò vào thời điểm này. Nhiệt độ chuồng nuôi thấp hơn nhiệt độ ngòai trời từ 1,2-1,7 độ nhưng ẩm độ lại cao hơn 13,5-15,7% chính vì vậy mà THI chuồng nuôi cao hơn so với THI ngoài môi trường (85,4>85,1). Điều này cho thấy chuồng trại có ý nghĩa rất quan trọng. Cần thiết kế sao cho chuồng mát và thông thoáng để giảm nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi. Chuồng trại không thông thoáng và thói quen tắm bò đã làm tăng ẩm độ chuồng nuôi khi trời nóng.

3.2. Ảnh hưởng của môi trường đến một số chỉ tiêu sinh lý của bò sữa
Sự thay đổi nhiệt độ, ẩm độ và THI của môi trường như bảng 1 và 2 thì các chỉ tiêu sinh lí như nhịp thở, nhịp tim và thân nhiệt của bò tương ứng cũng có sự khác nhau theo giờ và theo nhóm giống.


Bảng 3. Các chỉ tiêu sinh lý của 2 nhóm bò tại các giá trị THI khác nhau

9h
12h
15h
18h
THI
82,5
85,4
85,0
82,3
Bò lai
n = 45
Nhịp tim
69.3
72.5
73.3
71.8
Nhịp thở
44.8
51.9
58.5
47.8
Thân nhiệt
38.0
38.2
38.4
38.1
Bò thuần
n = 40
Nhịp tim
68.7
70.9
70.2
67.0
Nhịp thở
70.9
71.9
72.7
68.3
Thân nhiệt
38.9
39.0
38.9
38.6

Khi giá trị THI cao thì các chỉ số sinh lý của bò tăng. Nhịp thở tăng nhiều hơn nhịp tim và các chỉ số này ở bò thuần luôn cao hơn ở bò lai. Theo Joe W. West dáâu hiệu stress nhiệt xảy ra trầm trọng là khi thân nhiệt bò trên 39.2oC, nhịp thở trên 80 lần/phút. Nhưng tại thời điểm giá trị THI từ 84,2-85,4 bò lai và bò thuần HF ở đây vẫn có nhịp thở và thân nhiệt thấp hơn ngưỡng dấu hiệu stress nhiệt ở mức độ trầm trọng.

Bảng 4.  So sánh các chỉ tiêu sinh lý ở các nhóm bò phân theo giống
Giống
N
Nhịp tim
Nhịp thở
Thân nhiệt
F1
15
71.7
54.0
38.2
F2
15
73.4
58.4
38.4
F3
15
74.2
61.8
38.6
Thuần nhập
40
71.7
71.4
39.0
P
< 0.01
< 0.01
< 0.01
(Thời điểm 12h)

Qua đây có thể nhận xét là bò lai chịu đựng điều kiện nóng ẩm tốt hơn bò thuần, bò thuần HF nhập từ Úc chịu nóng ẩm hơn so với bò thuần HF Châu Âu. Phản ứng với stress nhiệt cũng khác nhau giữa các nhóm giống bò lai và năng suất sữa (bảng 4 và 5).


Sự khác biệt về sinh lý ở các giống là có ý nghĩa về mặt thống kê với p<0.01. Bò có máu HF càng cao thì chỉ số sinh lý càng cao. Nhịp thở bò thuần cao hơn bò F1 đến 17.4 lần/phút và thân nhiệt cũng cao hơn 0.8oC. Như vậy cho thấy rằng bò có nhóm máu HF càng cao càng dễ bị ảnh hưởng của môi trường và khả năng chống chịu stress càng thấp.
Bảng 5. So sánh các chỉ tiêu sinh lý ở các nhóm bò phân theo năng suất sữa
Nhóm bò
N
Nhịp tim
Nhịp thở
Thân nhiệt
Bò lai
< 15 kg
20
71.5
57.2
38.4
³ 15 kg
25
73.2
57.8
38.5
P
> 0.05
> 0.05
> 0.05
Bò thuần
< 15 kg
20
70.1
70.1
38.9
³ 15 kg
20
74.3
71.6
39.0
P
< 0.01
< 0.01
< 0.01
(Thời điểm 12h)

            Bảng 5 cho thấy nhóm bò lai có năng suất sữa cao từ 15kg/ngày trở lên trong cùng một điều kiện môi trường thì vẫn duy trì được nhịp thở và thân nhiệt tốt hơn nhóm bò HF thuần có năng suất thấp dưới 15kg.  Bò thuần có sản lượng sữa càng cao càng dễ bị ảnh hưởng bởi stress nhiệt. Aûnh hưởng bởi stress nhiệt lên sinh sản của bò thuần cũng rõ hơn so với bò lai (bảng 6).


Bảng  6. So sánh các chỉ tiêu sinh sản của 2 nhóm bò ở hai mùa mưa và mùa khô


Lai (n= 60con)
Thuần (n=60con)
Khô
Mưa
p
Khô
Mưa
P
KC đẻ - gieo tinh lần 1
76.72
76.62
> 0.05
130.1
154.4
< 0.05
KC lưá đẻ
370.3
378.6
> 0.05
455.4
497.4
< 0.05
Tỉ lệ đậu thai
1.48
1.56
> 0.05
1.91
2.04
> 0.05


Số liệu ở đây chúng tôi chỉ lấy trên những bò sinh sản bình thường;và bò mẹ sinh bê vào đúng mùa khô hoặc mùa mưa.


Mặc dù số liệu chưa nhiều nhưng sơ bộ cho thấy chỉ tiêu sinh sản của bò lai tốt hơn ở bò thuần và không bị ảnh hưởng bởi 2 mùa. Trong khi các chỉ tiêu này của bò thuần ở mùa mưa kém hơn ở mùa khô. Có thể ẩm độ cao bất lợi với bò thuần HF hơn là nhiệt độ cao. Theo J.K. Shearer (1990), D. Wolfenson và ctv (2000) stress gây hiện tượng không động dục ở bò đang trong thời kỳ cho sữa vì tuyến Adrenal tiết ra nhiều progesteron và làm tăng tỷ lệ chết phôi.

3.3. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi để khắc phục những ảnh hưởng stress nhiệt đối với của bò sữa.
Đã nghiên cứu một số biện pháp làm giảm stress nhiệt ở bò sữa như đánh giá hiệu quả  chuồng trại thông thóang, sử dụng biện pháp quạt gió và phun nước trên mái, quạt gió và phun nước trong chuồng kết quả như sau:

Kiểu chuồng thông thoáng
            Với kiểu chuồng thông thoáng đã làm giảm nhiệt độ trong chuồng nuôi xuống 0,8 độ C và giảm 3,8% ẩm độ, do vậy thân nhiệt bò giảm 0,2 độ C và nhịp thở giảm 17,8 nhịp/phút (bảng 7). Thiết kế kiểu chuồng thông thoáng là biện pháp đơn giản và rẻ tiền nhất để khắc phục tình trạng stress nhiệt ở bò sữa.

Bảng 7.  So sánh hai kiểu chuồng: thông thóang và không thông thoáng

Thóang
Không
Chênh lệch
D nhiệt độ C
-0.4
1.2
0,8
D ẩm độ (%)
-1.3
-5.1
3.8
Thân nhiệt
38.1
38.3
0,2
Thở
32.3
50.1
17,8
(D = chỉ số môi trường – chỉ số chuồng nuôi)

Quạt gió và phun nước
Theo dõi diễn biến nhiệt độ, ẩm độ và THI ở các trại đang áp dụng một vài biện pháp chống nóng cho trại bò sữa, kết quả cho thấy : Bằng biện pháp quạt gió và phun nước trên mái, cách này làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi so với nhiệt độ môi trường từ 4,9 xuống 5,1 độ C nhịp thở của bò giảm từ 69,3 xuống 58,8 nhịp/phút. Biện pháp quạt gió và phun nước trong chuồng cũng làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi so với nhiệt độ môi trường từ 5,7 xuống 6,4 độ C, nhưng cũng làm tăng thêm ẩm độ từ 19,4% lên 23,4%. Vì ẩm độ tăng nên giá trị THI cũng tăng từ 81,6 lên 82,6, tuy vậy nhịp thở của bò vẫn giảm từ 70,5 xuống còn 61,2 nhịp/phút.

Điều này cho thấy kĩ thuật phun nước vào chuồng bò cần nghiên cứu áp lực nước và độ lớn của hạt sương phun ra trong mối quan hệ với tốc độ gío và ẫm độ môi trường sao cho không làm tăng thêm THI chuồng nuôi. Ở vùng nóng ẩm như nước ta có thể chỉ cần dùng quạt gió với tốc độ lớn là đủ để khắc phục tình trạng stress nhiệt ở bò sữa vào lúc cao điểm.


Thí nghiệm sử dụng biện pháp quạt gió và phun nước trên mái
Trong thí nghiệm này, biện pháp quạt gió và phun nước trên mái làm giảm nhiệt độ chuồng nuôi  4,3 độ C so với nhiệt độ môi trường bên ngòai, tương ứng giảm 1,2 độ C so với lô đối chứng. Aåm độ chuồng nuôi chỉ cao hơn ẩm độ môi trường 6,1% tương ứng cao hơn lô đối chứng 0,9% (P=0,39). THI chuồng nuôi ở lô thí nghiệm thấp hơn THI ở chuồng nuôi đối chứng nhưng không có ý nghĩa (82,5 so với 82,9). Thân nhiệt bò giảm 0,1 độ C và nhịp thở giảm 4,6 nhịp/phút. Sư sai khác này có ý nghĩa thống kê. Với kĩ thuật áp dụng trong thí nghiệm chỉ có ý nghĩa cải tiến nhỏ đến môi trường chuồng nuôi, chưa thấy cải thiện năng suất sữa. Có lẽ công suất quạt và tốc độ gió khi quạt chưa đủ mạnh để giúp bò sữa thải nhiệt tốt hơn.

Bảng 8. Ảnh hưởng của quạt gió và phun mái lên một số chỉ tiêu ở bò sữa
Đối chứng
Thí nghiệm
p
DoC
3,1
4,3
0.003
ẩm (%)
- 5,2
- 6,1
0.39
THI chuồng
82.9
82.5
0.15
Thân nhiệt (oC)
38,9
38,8
0,04
Nhịp thở (lần/phút)
68,6
64,0
<0,01
NS. Sữa (kg/c/ng)
15,1
14,9
>0,05

(D = chỉ số môi trường – chỉ số chuồng nuôi)

Kết lun
Giá trị THI trung bình năm tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh là 79.3. Tháng 4 có khi nhiệt độ cao nhất lên tới 38,4 độ C và ẩm độ cao nhất vào tháng 10 đạt 82%, giá trị THI cực đại có lúc lên tới  93,7. Như vậy khí hậu nóng và ẩm ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh không thuận lợi cho nuôi bò HF thuần và bò lai có tỷ lệ máu HF cao.

Khả năng chống chịu môi trường nhiệt độ và ẩm độ cao thông qua chỉ tiêu nhịp thở và thân nhiệt cho thấy ở bò lai F1>F2>F3>HF thuần.  Đối với bò HF thuần, khi năng suất sữa trên 15kg/ngày thì khả năng chống chịu nóng ẩm kém và dấu hiệu stress nhiệt càng rõ.


Bò lai có sản lượng sữa thấp (<15kg/con/ngày) thích hợp với khí hậu khu vực miền Đông Nam Bộ. Bò thuần HF và bò lai hướng sữa có sản lượng sữa cao (>=15kg/ngày) cần lưu ý đến tình trạng stress nhiệt xảy ra khi THI chuồng nuôi từ 82 trở lên.


Biện pháp đơn giản để cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi giảm stress cho bò sữa là thiết kế chuồng trại thông thóang, quạt mát cho bò bằng quạt công suất lớn. Phun nước trong chuồng chưa thấy có hiệu quả vì làm tăng thêm ẩm độ chuồng nuôi.


5. Đề ngh
Cần nghiên cứu tiếp những biện pháp giảm stress nhiệt hiệu quả hơn.

Tài liệu tham khảo

1.       D. Wolfenson, Z. Roth, R. Meidan. 2000. Impaired reproduction in heat-stressed cattle: basic anh applied aspects. Animal reproduction science, 535-547. D.V.ArmstrongHeat stress interaction with shade and cooling (Symoosium: Nutrition and heat stress).
2.       J.K. Shearer, D.V.M., M.S., D.K. Beede, Ph. D., M.S. 1990. Effects of high environmental temperature on production, reproduction, and health of dairy cattle. Agri-Practice, volume11, number 5, 9-11/1990.
3.       J.K. Shearer, D.V.M., M.S., D.K. Beede, Ph.D., M.S. 1990. Thermoregulation and physiological responses of dairy cattle in hot weather. Agri-Practice, volume11, number 4, 6-8/1990.
4.       Joe W. West. Managing and feeding lactating dairy cows in hot weather.
5.       Đinh Văn Cải – Việt Nam, Fu QiGao – China, Ramesh Patil – Indian, Yuan Yao Ming – China, Maxwell Thwala – Swaziland 2000. Effect of heat stress on dairy cattle and procedures to reduce it. Final paper of training course “Dairy cattle Production” Shefayim 9/2001.
6.       Peter J. hansen, Ph.D. Causes and possible  solutions to the proplem of heat stress in reproductive management of dairy cows. National reproduction symposium, 11-23/09/1994, Pittsburgh.
Rick Verbeck, John F. Smith, Dennis V. Armstrong. Heat stress in dairy cattle
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com