Latest Post

Showing posts with label Tin. Show all posts
Showing posts with label Tin. Show all posts

Dự báo sâu bệnh tuần từ 1-7/7/2013

Written By Chăn Nuôi on Wednesday, July 3, 2013 | 12:22 AM


1. Các tỉnh phía Bắc
a) Trên mạ, lúa
- Sâu đục thân 2 chấm: Trứng nở, sâu non tiếp tục gây hại dảnh héo trên mạ và lúa mùa cực sớm. Giám sát chặt chẽ diễn biến sâu đục thân 2 chấm, tổ chức phòng trừ sâu đục thân 2 chấm cho diện tích mạ và lúa mùa sớm khi có mật độ ổ trứng cao.
- Sâu cuốn lá nhỏ: Sâu non lứa 4 phát sinh gây hại trên lúa HT giai đoạn đẻ nhánh rộ - đứng cái, lúa mùa giai đoạn đẻ nhánh với mức độ gia tăng cục bộ. Nhưng diện tích có mật độ quá cao cần xử lý kịp thời; không khuyến cáo phun thuốc sớm, phun thuốc tràn lan để trách bộc phát rầy và sâu cuốn lá.
- Chuột tiếp tục gây hại tăng trên mạ, lúa gieo thẳng; đặc biệt trên các khu ruộng mới gieo, gần gò bãi, mương máng; nhất là các tỉnh Bắc Trung bộ. Thực hiện vệ sinh đồng ruộng; tổ chức chỉ đạo và thực hiện đồng loạt ra quân diệt chuột trước vụ SX.
- Theo dõi và phòng trừ sọc đen trên lúa mới sạ tại một số tỉnh Bắc Trung bộ; châu chấu, sâu keo, rầy các loại, ốc bươu vàng, trên lúa HT - mùa sớm.
b) Trên mía
Bệnh chồi cỏ tiếp tục gây hại trên ruộng mía lưu gốc bị nhiễm bệnh, hại nặng những ruộng chưa được tiêu hủy hoặc tiêu hủy chưa triệt để, ruộng trồng mới bằng giống không sạch bệnh.
2. Các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên
- Sâu đục thân 2 chấm, rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh khô vằn, bệnh lem lép thối hạt... rải rác hại nhẹ trên lúa xuân hè - HT sớm đòng trỗ - chắc xanh.
- Bọ trĩ, sâu keo, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ... phát sinh hại chủ yếu lúa HT giai đoạn mạ - đẻ nhánh.
- Chuột: Hại chủ yếu trên lúa HT giai đoạn đẻ nhánh và giống gieo lúa trà muộn.
3. Các tỉnh phía Nam
- Từ 3 - 11/7 có đợt rầy nở rộ. Các tỉnh cần theo dõi diễn biến của rầy nâu trên đồng ruộng để có biện pháp xử lý kịp thời không để lây lan sang diện rộng và truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá sang các trà lúa TĐ mới gieo sạ.
- Bệnh đạo ôn lá có khả năng phát triển mạnh. Đặc biệt, trên những chân ruộng sạ dày, bón thừa phân đạm và ruộng canh tác giống nhiễm. Vì vậy, khi phát hiện cần tích cực phun để phòng trị đảm bảo nguyên tắc 4 đúng; không nên phun phối trộn phân bón lá với thuốc trị bệnh.
- Thực hiện xuống giống lúa TĐ đồng loạt, tập trung, né rầy và giãn cách với vụ lúa HT tối thiểu 20 ngày.
Ngoài ra để phòng ngừa tốt bệnh đạo ôn cổ bông, bệnh lem lép hạt nên phun ngừa trước trỗ và sau khi lúa trỗ đều.
Cũng cần lưu ý bệnh bạc lá vi khuẩn, chuột ở giai đoạn đẻ nhánh - trỗ chín. Các đối tượng khác xuất hiện và gây hại thấp.
KHUYẾN CÁO
Trên lúa:
- Rầy nâu phun Applaud 10WP, Imida 10WP khi rầy ở tuổi 2 - 3.
Trường hợp với áp lực rầy cao và gối lứa, sử dụng cặp Applaud 10WP + Oncol 20 hoặc Applaud 10WP + Hopsan 75ND.
- Sâu đục thân phun Nurelle D25/2,5EC, Oncol 25WP sau khi thấy bướm rộ 5 - 7 ngày.
- Sâu cuốn lá nhỏ phun một trong các thuốc sau:  Altach 5EC, Cyper 25EC.
- Bọ trĩ (bọ cánh tơ) phun Imida 10WP khi sâu còn nhỏ.
- Bệnh đạo ôn lá, thân phun Beam 75WP khi bệnh chớm xuất hiện.
- Đạo ôn cổ bông phun ngừa Beam 75WP 2 lần vào lúc lúa sắp trổ và sau trổ đều.
Trên cây trồng khác:
Cây chè
- Bọ cánh tơ Phun Nouvo 3,6EC khi bọ trĩ chớm xuất hiện.
- Rầy xanh phun Applaud 10WP, Mospilan 3EC khi rầy tuổi còn nhỏ.
Cà phê
- Bệnh thán thư (khô cành, khô quả) Sử dụng Manozeb 80WP hoặc Carbenda supper 50SC phun khi thấy bệnh chớm xuất hiện, nếu bệnh nặng phun lại lần 2.
- Bệnh gỉ sắt (nấm vàng da cam) phun Nicozol 12,5WP ướt đều 2 mặt lá khi bệnh mới xuất hiện. Tùy tình hình bệnh, phun lập lại cách nhau 7 - 10 ngày.
Cây tiêu
- Tuyến trùng rễ Sử dụng Oncol 25WP tưới xung quanh gốc, rễ và tưới lập lại vào 7 ngày sau.
Nhãn, vải
- Bệnh thán thư phun Carbenda supper 50SC khi bệnh chớm xuất hiện, bệnh nặng phun lại lần 2 vào 5 - 7 ngày sau phun lần đầu.

Một Số Nét Chính Về Chăn Nuôi Gia Cầm Ở Thái Lan

Written By Chăn Nuôi on Saturday, June 29, 2013 | 9:51 PM

TS. Tống Xuân Chinh

1. Tổng quan về ngành chăn nuôi gia cầm ở Thái Lan
Vư­ơng quốc Thái Lan là một quốc gia có nền chăn nuôi tư­ơng đối phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Cộng đồng quốc tế biết đến nhiều sản phẩm gia cầm của nư­ớc này có mặt ở nhiều nước nhập khẩu trên thế giới. Tính đến tháng 1 năm 2003, tr­ước khi bùng nổ dịch cúm gia cầm ở nước này, Thái Lan có 252,7 triệu con gà, 23,8 triệu con vịt, 3,7 triệu con chím cút và 15,9 ngàn con đà điểu (Số liệu thống kê của Cục Phát triển chăn nuôi, Thái Lan). Tổng đàn thuỷ cầm gồm 8,8 triệu vịt thịt, 8,9 triệu vịt đẻ và phần còn lại là ngan. Cơ cấu đàn gà gồm 165,3 triệu con gà giò, 24,3 triệu gà đẻ và 63,1 triệu gà bản địa. Sau khi xảy ra 4 đợt cúm gia cầm rải rác từ tháng 1/2004 đến tháng 8 năm 2006, tổng đàn gia cầm bản địa đã giảm; hiện chỉ còn khoảng 60 triệu gà bản địa và 10 triệu vịt. Gà giò đư­ợc nuôi chủ yếu trong các trang trại hiện đại (như­ của Tập đoàn CP) để xuất khẩu: tr­ước dịch cúm gia cầm xuất khẩu khoảng 20 triệu con/tuần, giữa năm 2005 là 14-15 triệu con/tuần và tháng 11/2006 là khoảng 16-17 triệu con/tuần.

Chi phí sản xuất cho gà giò công nghiệp trong năm 2006 t­ương đ­ương với năm 2005. Chi phí sản xuất trung bình là khoảng 29,0 bạt/kg gà giò hơi, trong đó 6,0 bạt để mua gà giống một ngày tuổi, 19,0 bạt tiền thức ăn, 1,0 bạt cho vắc xin và thuốc thú y, 3,00 bạt cho lao động và các chi phí khác. Do cung ứng không đáp ứng đ­ược cầu nên giá gia cầm nội địa đã tăng gấp đôi trong năm 2005. Giá trung bình cả n­ước đối với gà hơi trong năm 2005 tăng lên 32% so với cùng kỳ năm 2004, lên tới 32,33 bạt/kg. Giá thịt l­ườn gà không xương ở Bangkok năm 2005 là 68,42 bạt/kg so với 59,25 bạt/kg năm 2004. Giá gà hơi trung bình bán buôn tại trại năm 2006 là khoảng 35 bạt/kg.

Thái Lan cũng là nư­ớc có hệ thống chế biến thức ăn chăn nuôi hiện đại, đảm bảo an toàn sinh học và an toàn thức ăn chăn nuôi cao, điển hình là các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi của Tập đoàn CP. Thức ăn thành phẩm đ­ược xe tải xylô chuyên dùng chở thẳng xuống trang trại chăn nuôi để nạp vào xylô dự trữ, tránh quá trình tiếp xúc của chim hoang dã với thức ăn. 80% thức ăn được vận chuyển theo xylô, còn lại 20% đư­ợc đóng gói. Tính đến tháng 1 năm 2003, Thái Lan có 155 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi đến sản phẩm cuối cùng, 177 nhà máy chế biến bột cá, 17 nhà máy chế biến bột đậu tương, 37 nhà máy chế biến các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi khác. Nư­ớc này cũng có mạng l­ưới phân phối thức ăn chăn nuôi với 6.624 cơ sở dịch vụ.

2. Đổi mới chăn nuôi gia cầm ở Thái Lan
2.1. Chăn nuôi gà
T­ương tự nh­ư ở Việt Nam, FAO phân loại 4 hình thức chăn nuôi gia cầm gồm chăn nuôi công nghiệp với an toàn sinh học cao, chăn nuôi bán công nghiệp có an toàn sinh học trung bình, chăn nuôi gia cầm hàng hoá qui mô nhỏ có mức độ an toàn sinh học thấp và chăn nuôi gia cầm qui mô nhỏ tại nông hộ không đảm bảo an toàn sinh học. Hiện nay, Thái Lan đã, đang và sẽ thực hiện tái cơ cấu chăn nuôi gia cầm để nâng cao an toàn sinh học thông qua các giải pháp sau:

Đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm công nghiệp, khép kín tất cả các khâu từ con giống, thức ăn, giết mổ chế biến và bán sản phẩm. Hình thành hệ thống trang trại chăn nuôi áp dụng công nghệ cao để điều khiển tự động hoàn toàn các hoạt động của trại như­ điều hoà nhiệt độ, độ ẩm, thông gió, l­ượng khí độc, thức ăn, nước uống, khẩu phần thức ăn, kiểm tra tăng trọng, hồ sơ theo dõi...Gà giò nuôi công nghiệp kiểu này đạt 2,3-2,4 kg/con sau 42 ngày tuổi, với chi phí thức ăn khoảng 1,8 kg/kg tăng trọng.

Chuyển đổi mạnh từ chăn nuôi gà qui mô nhỏ tại nông hộ sang chăn nuôi gà theo trang trại tiêu chuẩn do Cục Phát triển chăn nuôi thẩm định và cấp phép. Ví dụ như­ tỉnh Sakaeo tr­ước dịch cúm gia cầm có 300.000 trang trại gia cầm như­ng hiện nay chỉ còn 60 trang trại tiêu chuẩn.
Hỗ trợ chuyển đổi từ hình thức chăn nuôi gà không kiểm soát sang chăn nuôi có kiểm soát tại các nông hộ.

Hệ thống chăn nuôi, giết mổ, chế biến công nghệ cao phục vụ xuất khẩu các sản phẩm gia cầm của Tập đoàn CP đã chuyển h­ướng từ xuất khẩu sản phẩm gia cầm ch­ưa chế biến sang các sản phẩm gia cầm đã chế biến để đáp ứng yêu cầu mới của thị trường xuất khẩu. Các cơ sở giết mổ và chế biến của Tập đoàn đang áp dụng 5 loại tiêu chuẩn chất lượng nh­ư GMP, HACCP, ISO 9001-2000, BRC, ACP. Ngoài ra các tiêu chuẩn về phúc lợi động vật và khả năng truy tìm nguồn gốc của bất kỳ sản phẩm nào cũng được đáp ứng trong dây chuyền này. Nhờ đó, Tập đoàn này đã đáp ứng các nhu cầu khắt khe về nhập khẩu sản phẩm gia cầm đã chế biến của EU và Nhật Bản... trong bối cảnh dịch cúm gia cầm đe doạ, đồng thời vẫn giữ vững đư­ợc sản xuất và thị trư­ờng của Tập đoàn.

2.2. Chăn nuôi vịt ở Thái Lan
Tư­ơng tự ở Việt Nam, chăn nuôi vịt thả đồng cũng là một nghề truyền thống ở Thái Lan. Hiện nay, Thái Lan có khoảng 10 triệu con vịt, tr­ước dịch cúm gia cầm 80% đàn vịt là nuôi không kiểm soát. Sau dịch cúm gia cầm, nư­ớc này nhanh chóng tổ chức lại hình thức chăn nuôi này để nâng cao an toàn sinh học. Chính phủ Thái Lan có chính sách hỗ trợ các chủ trại chăn nuôi vịt thả đồng sang nuôi nhốt; đầu tư­ 5 tỉ bạt thông qua 5 ngân hàng để hỗ trợ chủ trang trại vay vốn với lãi suất 2% năm để phục vụ chuyển đổi. Đồng thời Thái Lan cũng tài trợ cho việc chuyển đổi; tính bình quân, mỗi chủ trại nuôi một đàn vịt khoảng 3.000 con sẽ được tài trợ 3.500 bạt. Trong quá trình chuyển đổi, hàng loạt hợp tác xã chăn nuôi vịt đ­ược thành lập. 10-15% số ngư­ời chăn nuôi gia cầm tại nông hộ chuyển đổi sang nghề khác với sự trợ giúp đào tạo và hỗ trợ chuyển đổi nghề từ Cục Phát triển chăn nuôi.

Bên cạnh các trang trại nuôi bán chăn thả, đã hình thành các trang trại hiện đại chăn nuôi vịt có sử dụng công nghệ cao để điều khiển tự động hoàn toàn các hoạt động của trại như­ điều hoà nhiệt độ, độ ẩm, thông gió, l­ượng khí độc, thức ăn, n­ước uống, khẩu phần thức ăn, kiểm tra tăng trọng, hồ sơ theo dõi...Vịt nuôi công nghiệp kiểu này đạt 3,2-3,5 kg/con từ 42-45 ngày tuổi, với chi phí thức ăn thấp.

2.3. Mô hình hợp tác xã chăn nuôi vịt đẻ nuôi nhốt
Tỉnh Chai nat của Thái Lan là một tỉnh bị thiệt hại lớn do dịch cúm gia cầm. Đây là một tỉnh có đàn gia cầm lớn, đặc biệt là vịt. Tính đến tháng 12 năm 2006, tỉnh có 100 trang trại nuôi khoảng 200.000 vịt. Đổi mới để tăng c­ường an toàn sinh học, tỉnh đã xây dựng mô hình hợp tác xã chăn nuôi vịt trang trại, điển hình là Hợp tác xã nuôi vịt ở cụm xã Bruklusi, huyện Munung, tỉnh Chai nat.

Hợp tác xã này nhận tài trợ ban đầu 2 tỉ bạt từ Cục Hợp tác xã để xây dựng chuồng trại và mua thức ăn cho vịt đẻ và khoản vay lãi suất ư­u đãi 1%/năm. Hợp tác xã này có 300 thành viên, Ban chủ nhiệm có 15 thành viên trong đó 3 ngư­ời tham gia điều hành, đứng đầu là chủ nhiệm HTX. Ba ng­ười này đều không đư­ợc nhận l­ương từ HTX như­ng nhận trợ cấp mỗi lần họp 200 bạt (tháng họp 2 lần). Các thành viên chính thức không phải nộp lệ phí hàng tháng. Thành viên mới phải nộp lệ phí khi gia nhập HTX, có thể viết đơn và dự án để Ban Chủ nhiệm hợp tác xã cho vay vốn với lãi suất ­ưu đãi ở trên. HTX thu mua toàn bộ trứng của xã viên với giá ổn định và cao hơn thị trư­ờng, đồng thời bán thức ăn cho xã viên với giá rẻ hơn thị trư­ờng từ 1,5 đến 1,7% và cung cấp các loại thuốc thú y. HTX cũng tổ chức tiêm vắcxin miễn phí cho vịt của xã viên 2 lần/năm, đào tạo kỹ thuật và cung cấp các loại hạt giống khác cho xã viên. HTX bán buôn trứng cho thương lái, chủ yếu để làm trứng muối. Mỗi trại vịt đẻ thường nuôi từ 2.000-2.300 con, tỉ lệ đẻ trứng khoảng 90%. 90% xã viên nuôi vịt có lãi, còn lại 10% các thành viên mới do thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật nên thư­ờng không có lãi trong 2 năm đầu mới nuôi.

2.4. Mô hình nuôi gà chọi
Thái Lan là một n­ước có truyền thống chơi gà chọi để thi đấu và cá cư­ợc hợp pháp. Các chủ trại nuôi gà chọi khép kín từ chọn tạo giống, nuôi d­ưỡng, huấn luyện gà, mở sới đấu gà để đăng ký kinh doanh. Một số chủ trại lớn có thể mở nhiều sới và cả đấu tr­ường đấu gà. Giá vé cho ng­ười xem là 50 bạt và giải thưởng cao nhất theo qui định là 20.000 bạt, ng­ười thắng phải nộp thuế 20%. Tại làng Nonjit, cụm xã Borrae, huyện Watsing, tỉnh Chai nat có 50 hộ nuôi gà chọi với tổng đàn khoảng 3.000 con. Trang trại của ông Songwut Taitani nuôi tới 300 con gà chọi, trong đó có cả gà chọi giống mua từ Việt Nam. Có một vài con gà chọi giống quí có giá từ 1.000 đến 1.500 USD. Theo ông chủ thì trang trại hàng năm thu lãi khoảng 50.000 bạt.

Để nâng cao công tác quản lý nhà nư­ớc, Cục Phát triển chăn nuôi qui định đăng ký và cấp phép cho từng chủ hộ, từng con gà chọi đ­ược kiểm tra và cấp hộ chiếu. Khi mang gà chọi đi thi đấu phải mang kèm hộ chiếu của gà. Khi đư­a gà và xe cộ từ bên ngoài vào trại đều phải khử trùng.

3. Một số vấn đề tồn tại trong chăn nuôi gia cầm ở Thái Lan
Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm tốt hơn Việt Nam nh­ưng nư­ớc này vẫn có nguy cơ cao tái lây nhiễm và bùng phát dịch cúm gia cầm. Các nguyên nhân sau có thể đ­ược đề cập:

Chăn nuôi gia cầm tại nông hộ, đặc biệt là chăn nuôi vịt thả đồng vẫn chư­a quản lý hiệu quả và cách ly triệt để, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa.

Nguyên cơ lây nhiễm vi rút cúm gia cầm từ các đàn chim hoang dã đối với gia cầm nuôi tại nông hộ cao.

Do Thái Lan không sử dụng vắcxin cúm gia cầm trong suốt thời kỳ bị dịch nên nguồn vi rút bài xuất ra môi trường sẽ là một nguồn lây nhiễm tiềm tàng.

Để nâng cao an toàn sinh học, Thái Lan tăng cường kiểm soát chặt chẽ chăn nuôi gia cầm bản địa tại nông hộ, chuyển đổi từ hình thức chăn nuôi không kiểm soát sang chăn nuôi có kiểm soát với sự hỗ trợ từ Chính phủ Thái Lan.

Hiện Tượng Kháng Kháng Sinh - Trách Nhiệm Cá Nhân Và Tập Thể

Written By Chăn Nuôi on Sunday, June 23, 2013 | 2:49 AM

Nguyễn thượng Chánh, DVM
Mots clés: Résistance aux antimicobiens, Antibioresistance
Ngày nay, khắp thế giới người ta rất lo ngại trước sự gia tăng không ngừng của hiện tượng lờn thuốc đối với nhiều loại vi khuẩn. Không ít thuốc kháng sinh từ trước giờ được xem như những cứu tinh của biết bao bệnh tật, ngày nay chúng đã tỏ ra không còn công hiệu chữa trị được nữa. Kho tàng thuốc kháng sinh càng ngày càng trở nên hạn hẹp và khan hiếm hơn trước rất nhiều… Hiện tượng kháng kháng sinh đã bắt đầu!

Thuốc kháng sinh là gì? - Đó là những chất thiên nhiên được gây cấy từ vi sinh vật, hoặc được tổng hợp hay bán tổng hợp hóa học.


Chúng có khả năng hủy diệt hoặc làm chậm lại sự phát triển và bành trướng của vi sinh vật gây bệnh. Các chất nầy có thể là thuốc trụ sinh (antibiotique), các sulfa (sulfamide), thuốc diệt siêu vi (antiviraux), thuốc diệt nấm (antifongiques), chất tẩy uế (desinfectants), và các loại thuốc sát trùng (antiseptiques).

Hiện tượng kháng kháng sinh là gì? - Hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn không bị diệt bởi thuốc kháng sinh, chúng vẫn tồn tại, sinh sản ra những thế hệ con cháu không có tính cảm ứng (sensible) với một hay với nhiều loại thuốc kháng sinh nào đó còn đuợc gọi nôm na là hiện tượng lờn thuốc!

Tại sao hiện tượng lờn thuốc có thể xảy ra? - Có rất nhiều nguyên nhân, như sự sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng cách, không tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu, cũng như không chịu uống cho thật hết số thuốc như bác sĩ đã kê toa. Ngoài ra việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi thú y, canh nông và ngư nghiệp cũng dự phần không nhỏ trong sự hình thành hiện tượng kháng kháng sinh ở người.

Cuối cùng là vấn đề dùng các chất diệt khuẩn (nettoyant antibactérien) để chùi rửa quá thường xuyên, không đúng chỉ dẫn cũng có thể giúp sản sinh ra những dòng vi khuẩn có tính kháng thuốc…Y, nha, dược, thú y sĩ và bệnh nhân đều có trách nhiệm trong vấn đề kháng kháng sinh nầy!

Kháng thuốc xảy ra như thế nào? - Vi khuẩn tiếp nhận tính kháng thuốc từ nhiều ngõ. Từ các vi khuẩn khác có mang sẵn tính chất nầy, hoặc do hiện tượng ngẫu biến (mutation) tự nhiên. Phải chăng đây là một hiện tượng thiên nhiên nhằm để bảo vệ sự sống còn của một sinh vật? Tính đề kháng được gắn trên di thể (gène) của vi khuẩn, hoặc cũng có thể nằm trong những đơn vị phụ thuộc của nhiễm sắc thể (chromosome), gọi là những plasmides.

Đây là những vòng DNA cực nhỏ và di động. Khi vi khuẩn chết đi, các plasmides nầy sẽ được thải vào môi sinh, và từ đó nhiễm vào các vi khuẩn khác.
Còn đối với siêu vi (virus), khi tăng số (gọi là làm réplication ), chúng cần phải xâm nhập vào vi khuẩn để trích lấy plasmides và đem truyền sang cho những vi khuẩn khác.

Tại sao vi khuẩn kháng được thuốc?
Hiện tượng kháng thuốc có thể xảy ra theo một trong những cơ chế sau đây

1- Làm thay đổi mục tiêu tác động (site d’action) của thuốc trên vi khuẩn Ví dụ làm thay đổi protéine trên vi khuẩn mà thuốc Pénicilline sẽ bám vào để tác động. (Pénicilline vs Streptococcus pneumoniae).
2- Vô hiệu hóa thuốc bằng enzyme bêta lactamase. (Penicilline vs Staphilococcus aureus).
3- Làm giảm độ thẩm thấu của màng tế bào vi khuẩn nên thuốc không tác động được. (Gentamycine vs Pseudomonas aeroginosa).
Một số vi khuẩn kháng thuốc tại Canada
• - Staphylococcus aureus kháng Methicilline.
• - Enterococcus kháng Vancomycine.
• - Klebsiella pneumoniae / bêta lactamase à spectre étendu (BLSE) résistants.
• - Eschericia coli / BLSE résistants.
• - Salmonella.
• - Shigella.
• - Gonocoques kháng Fluoroquinolone.
• - Streptococcus pneumoniae résistant à la Pénicilline (SPRP).
• - Tuberculose résistant à l’Isoniaside et à la Rifambine.

Sự sang nhượng tính kháng thuốc: hiện tượng đáng ngại (transfert de résistance)
Có bằng chứng cho thấy vi khuẩn mang tính kháng thuốc có thể vượt hàng rào chủng loại (barrière d’espèce) để truyền tính nầy sang cho những vi khuẩn của một chủng loại khác, thí dụ vi khuẩn gốc ở thú vật truyền tính đề kháng sang cho vi khuẩn gốc ở người chẳng hạn… Ngoài ra, cũng cần nói thêm là đa số thuốc kháng sinh bên thú y đều có cùng một cơ cấu hóa học như những thuốc đồng loại bên người. Bởi lý do nầy, cho nên khi một vi khuẩn đề kháng với một loại thuốc thú y thì nó cũng có thể đồng thời đề kháng với các loại thuốc cùng nhóm bên người.

Thuốc kháng sinh nhìn từ phía y khoa - Năm 1954, Hoa Kỳ chỉ sản xuất có 2 triệu cân thuốc kháng sinh. Ngày nay số sản xuất đã tăng vọt lên trên 50 triệu cân/năm.

Theo The Centers for Disease Control & Prevention (CDC) Hoa Kỳ cho biết, có thể nói là có trên 50% toa kháng sinh do bác sĩ kê cho bệnh nhân đều không cần thiết và không xác đáng đã được kê ra để chữa trị những bệnh thông thường do virus như ho hen cảm cúm… Và được biết là thuốc kháng sinh chỉ có công hiệu để trị những bệnh cảm nhiễm do vi khuẩn gây ra mà thôi. Cơ quan Y tế Canada cũng đưa ra một nhận định như trên.

Ngày nay, một số lớn vi khuẩn không còn cảm ứng với các loại thuốc kháng sinh cũ thường được sử dụng từ trước tới nay nữa. Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, tác nhân của viêm phổi và viêm màng não đã không còn cảm ứng với Pénicilline và một số thuốc khác… Vancomycine là kháng sinh đặc trị vi khuẩn Staphylococcus aureus, giờ thì nó không còn hữu hiệu nữa. Các vi khuẩn như Enterococcus faecalis, Mycobacterium tuberculosis, Pseudomo -nas aeruginosa đều đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh. Tử vong của bệnh lao phổi trước đây đã giảm thiểu ở các quốc gia Tây phương, nay có khuynh hướng gia tăng trở lại.

Cơ quan Y Tế Thế giới (OMS) cho biết các chủng vi khuẩn bệnh lậu mũ (gonorrhea) gốc Á châu và Phi châu ngày nay đã thấy xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới. Tình trạng nhiễm trùng hậu giải phẫu tại các bệnh viện Canada là một vấn đề thật đáng ngại, trong đó nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus là một trong nhiều loại vi khuẩn thường gặp nhất.

Gần đây, Clostridium difficile vi khuẩn gây viêm ruột xảy ra trong các bệnh viện cũng có mòi gia tăng lên nhiều.

Thuốc kháng sinh nhìn từ phía thú y Thuốc kháng sinh dược dùng để phòng và trị bệnh gia súc, nhưng phần lớn trên 90 % thuốc được sử dụng như những chất kích thích tăng trưởng (growth promoting) trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Thuốc kháng sinh được trộn vào thức ăn hỗn hợp với những nồng độ thật thấp (sous thérapeutique) để giúp thú mau lớn và tăng trọng nhanh. Kỹ nghệ nuôi cá salmon vùng ven biển Vancouver, Canada củng áp dụng phương pháp nầy.

Sự kiện sử dụng quá bừa bãi thuốc kháng sinh từ mấy chục năm nay đã làm phát sinh ra rất nhiều chủng vi khuẩn mang tính kháng thuốc. Vi khuẩn Salmonella đã đề kháng cùng một lúc với nhiều thuốc như Ampicilline, Chloramphenicol, Streptomycine, và Tétracycline.
Vào cuối thập niên 1990, tại Anh quốc vi khuẩn Salmonella typhimurium DT 104 đã hoành hành dữ dội trong chăn nuôi. Một thời gian sau đó, người ta đã phát hiện những vi khuẩn nầy ở người và điều tai hại nhất là chúng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kể cả với thuốc Trime -throprim sulfa và Fluoroquinolone…

Năm 1985, tại Californie trên 1000 người đã ngã bệnh vì ăn phải hamburger có nhiễm khuẩn Salmonella newport đề kháng với nhiều loại thuốc…
Ngày nay các vi khuẩn thông thường của đường ruột như Entérobacter, Campylobacter, và E.coli 0157 : H7 (bệnh Hamburger) cũng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kháng sinh!

Ăn thịt chứa chất tồn dư kháng sinh có hại không?
Câu hỏi nầy thường được mọi người nêu ra. Trên lý thuyết chúng ta nên tránh dùng thịt có chứa chất tồn dư (résidu) kháng sinh. Thực tế rất khó thực hiện, ngoại trừ trường hợp mình tự nuôi lấy súc vật để làm thịt. Thịt có tồn dư kháng sinh có thể gây hại cho sức khỏe như :

• - Gây dị ứng. Ví dụ Penicilline sẽ chuyển thành acide Pénicilline là một chất dị ứng (allergène), tuy nhiên cũng rất hiếm thấy xảy ra.
• - Tạo ra những chủng vi khuẩn mang tính kháng kháng sinh sau nầy.
• - Một vài loại thuốc kháng sinh trong chăn nuôi bị nghi ngờ là có thể gây ung thư (carcino -gène). Thuốc kháng sinh Carbadox (Mecadox) thường được sử dụng để trị tiêu chảy ở heo con và cũng đồng thời giúp chúng không bị mất sức giảm cân trong lúc lẻ bầy.

Thuốc cho thấy gây ung thư ở chuột trong phòng thí nghiệm, bởi vậy để ngừa nguy cơ nầy ở người dùng thịt heo, thời gian ngưng thuốc Carbadox trước khi gởi heo đi hạ thịt phải trên 42 ngày để thịt không còn chứa chất tồn dư. Một số Quốc gia như Anh và Úc châu đã cấm sử dụng, Bộ y tế Canada mới đây cũng ra quyết định cấm bán Carbadox.

Phải chăng tất cả vi khuẩn đều có hại?
Thật ra không phải vi khuẩn nào cũng đều có hại cả. Có loại vi khuẩn hiền sống trong ruột và trên da của chúng ta. Chỉ có những loại vi khuẩn xấu mới làm chúng ta bệnh. Khoa học gọi chúng là những pathogènes... Khi chúng ta sử dụng các chất diệt khuẩn để chùi rửa, tất cả vi khuẩn tốt lẫn vi khuẩn xấu sống trên da đều bị diệt hết. Nếu chỉ dùng savon thường để rửa thì vi khuẩn tốt không hề hấn gì nhưng ngược lại vi khuẩn xấu sẽ dễ dàng bị loại đi.

Vậy tốt nhất là nên xài savon loại thường và tránh bớt việc dùng các loại savon diệt khuẩn (savon antibactérien). Đây là một trong nhiều cách để ngăn chặn phần nào sự xuất hiện của những vi khuẩn kháng thuốc!

Ai ít sử dụng kháng sinh thì khỏi phải lo sợ hiện tượng lờn thuốc? Vấn đề ở đây không phải là bệnh nhân kháng thuốc, nhưng chính vi khuẩn mới thật sự là đối tượng lờn thuốc.

Vi khuẩn kháng một loại thuốc nào đó khi chất nầy không đủ sức để diệt được nó. Vi khuẩn mang sẵn tính kháng thuốc có thể nhiễm vào môi sinh, vào nguồn nước cũng như vào bất luận một loại thức ăn thức uống nào đó. Vấn đề thịt chứa chất tồn dư kháng sinh cũng là nguyên nhân gây ra những chủng vi khuẩn kháng thuốc. Luật thú y Canada đã quy định rõ rệt thời gian bắt buộc phải ngưng chữa trị súc vật (période de retrait, withdrawal period) bằng kháng sinh truớc khi gởi đến nhà máy để hạ thịt. Thời gian này dài hay ngắn tùy theo loại thuốc sử dụng. Test thử nghiệm (Cast test, Stop test, DSSP) sự hiện diện của chất kháng sinh trong thịt vẫn thường được thực hiện thường xuyên tại lò sát sinh.

Phương pháp duy nhất làm dịu bớt triệu chứng đau cổ họng và các cơn ho kéo dài lâu ngày là nên uống kháng sinh? Trong thực tế phần lớn trường hợp trên lúc bị cảm cúm đều có nguyên nhân là virus, cho nên uống kháng sinh không có hiệu quả được.

Bác sĩ có thể chẩn đoán tác nhân gây bệnh, do virus hay do vi khuẩn Streptococcus bằng cách cho thử nghiệm và cấy vi khuẩn (làm culture). Các cơn ho kéo dài lâu ngày 2-3 tuần thường là do virus gây ra (ví dụ viêm phế quản do siêu vi, bronchite virale), bác sĩ có thể cho chụp hình X ray và kê toa kháng sinh nếu thấy cần, và chỉ có bác sĩ mới có thẩm quyền chuyên môn cho phép uống hay không cần uống kháng sinh.

Những người ăn chay, không ăn thịt thì không phải lo ngại đến hiện tượng kháng thuốc?
Điều nầy sai! Các loại vi khuẩn gây bệnh có mang sẵn tính kháng thuốc có thể đã hiện diện trong rau cải hoa quả rồi….Phân súc vật là nguồn lây nhiễm chính!

Nếu nấu thịt cho thật chín có nghĩa là tôi sẽ loại được tất cả vi khuẩn mang tính kháng thuốc?
Không hoàn toàn đúng như vậy. Sự nấu chín không đồng nghĩa với sự tiệt trùng (stérilisation). Một số vi khuẩn sống sót vẫn có thể làm hại ta như thường. Bên cạnh vấn đề vi khuẩn, thịt cũng có thể chứa các chất tồn dư kháng sinh nữa.

Toa ghi rõ uống 4 viên kháng sinh một ngày, nhưng ta chỉ cần uống 2 viên là đủ rồi?
Không nên nghĩ như vậy! Cần phải tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu. Khoảng cách giữa các liều uống có mục đích đảm bảo trong máu lúc nào cũng phải có một nồng độ thuốc cần thiết. Việc không tôn trọng liều lượng sẽ làm trị liệu không kết quả và có thể dẫn đến tình trạng vi khuẩn kháng thuốc sau nầy…
Bệnh nhân cần uống cho đúng cách, đúng liều, uống liên tục cho đến khi hết thuốc theo đúng như toa. Đây là điều tối quan trọng để bảo vệ sức khỏe không những cho riêng cá nhân mình mà còn cho cả những người trong gia đình và cho cả súc vật nuôi trong nhà nữa. Kháng sinh 

còn dư trong lọ có thể để dành sử dụng lại sau nầy, hoặc để cho người khác?
Không nên! Điều quan trọng là phải uống thuốc như toa đã ghi mới có thể hết bệnh được. Uống không hết thuốc, một số vi khuẩn vẫn có thể còn sống sót và trở nên kháng thuốc sau nầy. Bệnh trạng mỗi người mỗi khác. Mỗi loại kháng sinh đều có chỉ định đặc biệt để trị một hay nhiều loại vi khuẩn nào đó. Đem thuốc dư của mình cho người khác là không đúng. Thuốc dư, thuốc cũ quá thời hạn sử dụng không nên vứt bỏ vào thùng rác, lavabo hay vào toilette vì chúng có thể làm ô nhiễm nguồn nước và có thể làm xuất hiện tính kháng thuốc ở một số vi khuẩn sống trong môi sinh. Tại Canada, cách tốt nhất là đem thuốc cũ đến các dược phòng để nhờ họ gởi đi hủy bỏ một cách an toàn.

Chúng ta không nên lo sợ tình trạng kháng kháng sinh vì có rất nhiều loại thuốc trên thị trường? Điều nầy không hoàn toàn đúng! Các loại vi khuẩn gây bệnh không những chỉ đề kháng với một thứ kháng sinh, nhưng chúng cũng có thể kháng cùng một lúc với nhiều loại thuốc khác nhau. Số thuốc kháng sinh trong kho tàng trị liệu sẽ trở nên khan hiếm và đắt tiền hơn.

Kết luận
Hiện tượng kháng kháng sinh là một hiểm họa chung của nhân loại. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề nầy một cách đơn thuần cục bộ được, mà phải tìm một giải pháp chung cho cả thế giới. Mọi người đều nhìn nhận là cần nên áp dụng các biện pháp như, giáo dục dân chúng, ban hành những luật lệ gắt gao để kiểm soát việc sử dụng và lưu hành thuốc kháng sinh, canh tân hóa các bệnh viện, mở mang chuồng trại, cải tiến kỹ thuật chăn nuôi để giảm thiểu sự sử dụng kháng sinh trong việc phòng chống bệnh tật.

Nhưng tất cả những điều vừa kể đều chỉ là ảo tưởng nếu không có một quyết tâm chính trị thật sự mạnh mẽ đi kèm… Chuyện không đơn giản đâu!

Tài liệu tham khảo:
- Santé Canada, Bulletin Recherche sur les Politiques de Santé, No 6,Juin 2003.
- George G. Khachatourias, Agricultural Use of Antibiotics and Evolution and Transfert of Antibiotic Resistant Bacteria. CMAJ Nov. 1998.
- Stuart B.Levy. TheChallenge of Antibiotic Resistance. Scientific American, March1998

Nạn Heo Bơm Nước Bùng Phát

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 21, 2013 | 7:03 AM

Một con heo trên 100 kg có thể bơm nước tăng trọng lượng thêm khoảng 10 kg. Thịt heo bị bơm nước rất dễ bị nhiễm vi sinh, thịt mau bị ôi.

Thịt heo bơm nước bị tạm giữ tại trạm kiểm dịch thú y An Lạc - TPHCM. Ảnh: V.TR

Thông tin từ giới kinh doanh thịt heo tại TPHCM cho biết gần đây tình trạng các lò giết mổ bơm nước vào heo để gia tăng trọng lượng thịt lại xuất hiện và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Heo bơm nước chủ yếu tập kết về chợ đầu mối nông sản thực phẩm Bình Điền, quận 8 - TPHCM, sau đó được phân phối về các chợ ở TPHCM để tiêu thụ.

Thịt ở chợ sỉ, chợ lẻ đều dính

Do nguồn heo bơm nước này đã được đóng dấu kiểm soát của cơ quan thú y địa phương từ các lò giết mổ nên khi về chợ đầu mối loại thịt kém chất lượng này đã được hợp thức hóa hợp pháp tiêu thụ trên thị trường, người tiêu dùng khó có thể phân biệt được.

Theo số liệu thống kê từ ngành thú y TPHCM, mỗi ngày chợ Bình Điền tiêu thụ gần 2.000 con heo, trong đó số heo được giết mổ tại các lò ở TPHCM chỉ khoảng 800 con, số còn lại do các lò giết mổ ở Long An cũng như một số địa phương lân cận cung cấp, trong đó chỉ riêng ba lò giết mổ Chiến Thắng, Long Hiệp (Bến Lức, Long An), Cầu Tràm (Cần Giuộc, Long An) cũng đã cung cấp cho chợ Bình Điền gần 1.000 con heo/ngày.

Một cán bộ trạm kiểm dịch động vật An Lạc (quận Bình Tân, TPHCM) cho biết đêm nào trạm cũng phát hiện 5 - 6 xe (mỗi xe chở hàng chục con heo) trong đó có heo bơm nước từ khu vực Long An đưa về TP tiêu thụ, với hiện trạng thịt heo bị rỉ dịch. Chỉ trong tuần qua, trạm đã phát hiện gần 70 tấn thịt dạng này. Tình trạng thịt heo rỉ dịch do bơm nước cũng được trạm kiểm dịch thú y chợ Bình Điền phát hiện rất nhiều. Một số trường hợp mới phát hiện như 16 con heo của bà Nguyễn Thị L., vụ hơn chục con heo của ông Nguyễn Văn T. đều được giết mổ ở cơ sở Cầu Tràm (Long An). Hoặc vụ 10 con heo của hộ Nguyễn Thúy N. và 15 con heo của hộ Võ Thị Thanh X. ở chợ Bình Điền được lấy từ cơ sở giết mổ Chiến Thắng (Long An) cũng bị cơ quan thú y kiểm tra phát hiện rỉ dịch cao bất thường... Tất cả các trường hợp heo bị rỉ dịch đều đã có giấy chứng nhận của Chi cục Thú y Long An.

Bà Hạnh, buôn bán lẻ thịt heo tại chợ Minh Phụng, quận 6, cho biết các hộ bán lẻ như bà lấy nhầm thịt heo bơm nước là chuyện thường ngày. Lấy vô gần 20 kg thịt, đến khi bán xong thiếu hụt mất từ 1-2 kg. Bằng chứng là vừa bán, bà Hạnh vừa quơ tay thấm nước bằng mốp xốp, vắt liên tục... Cán bộ thú y kiểm soát tại các chợ trên địa bàn quận 5, 6, 8 cho biết không thể xử lý được người bán lẻ thịt heo bơm nước do nước được bơm vào heo trước khi giết mổ, vả lại thịt heo có hiện tượng rỉ dịch đều có giấy tờ đầy đủ.

Cán bộ thú y tắc trách

Tận mắt chứng kiến công tác kiểm soát giết mổ tại một số cơ sở giết mổ lớn ở Long An như Chiến Thắng, Cầu Tràm, Long Hiệp thật đáng lo ngại. Từ 14 giờ đến 17 giờ, các xe chở heo sống được tập kết về các lò giết mổ ầm ầm chờ đến giờ giết mổ nhưng không hề thấy bóng dáng cán bộ thú y nào kiểm tra tình trạng xe có còn niêm chì hay không, có đầy đủ giấy tờ hoặc kiểm tra lâm sàng tình trạng sức khỏe heo theo như quy định. Thời gian này, heo được bơm nước vô tư, mỗi con được bơm từ 2-3 lần. Nước bơm được lấy trực tiếp từ kênh, rạch ngay bên cạnh. Khoảng 19 giờ mới có cán bộ thú y xuất hiện nhưng chủ yếu họ ngồi ở phía ngoài, còn bên trong heo được các thợ giết mổ tiếp tục bơm tăng cường rồi giết mổ. Mỗi con heo bơm nước, lái heo phải trả thêm tiền công từ 10.000 đồng- 15.000 đồng, tùy theo trọng lượng. Heo càng lớn được bơm nước càng nhiều. Đặc biệt nguồn heo nái được đưa về các lò giết mổ này khá nhiều và lượng nước bơm vào loại heo này được tận dụng tối đa. Do các cơ của heo nái không còn chắc như heo thịt nên lượng nước được bơm vào càng nhiều càng tốt. Nước sẽ làm cho da, cơ heo nái căng phồng trở lại trông bắt mắt hơn sẽ dễ tiêu thụ hơn...

Bà Nguyễn Thị Thu Nga, Chánh Thanh tra Chi cục Thú y TPHCM, cho biết nạn bơm nước vô heo đang được chi cục quan tâm và tìm mọi biện pháp để ngăn chặn. Tuy nhiên, tình trạng bơm nước diễn ra bên ngoài địa bàn TP nên công tác kiểm tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn. Gần đây Chi cục Thú y TPHCM cũng đã phối hợp với Chi cục Thú y Long An, tăng cường kiểm tra, kiểm soát tình trạng này nhưng vẫn chưa hiệu quả. 


Khó xử lý heo... bơm nước
Ngày 22-2, ông Lê Minh Khánh, Chi cục trưởng Chi cục Thú y tỉnh Tiền Giang, cho biết cán bộ kiểm dịch thú y huyện Cai Lậy phát hiện một lò giết mổ heo bơm nước vào heo để bán cho thương lái nhưng cơ quan thú y cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhắc nhở chứ không xử phạt hành chính được. 
Theo ông Khánh cho đến nay chưa có quy định nào xử lý việc bơm nước vào heo để bán. Chi cục Thú y cũng đã có văn bản gửi Chi cục Quản lý Thị trường tỉnh Tiền Giang đề nghị phối hợp xử lý các trường hợp tương tự như trên. Theo một cán bộ thú y, thời gian gần đây, các thương lái thu mua heo hơi thường sử dụng ống nước loại phi 21 bơm nước trực tiếp vào miệng heo để tăng trọng lượng rồi đưa về TPHCM tiêu thụ. Trung bình mỗi con heo được bơm từ 15 đến 20 lít nước.
M.Sơn

LONG GIANG -http://www.nld.com.vn

Đôi Nét Về Nghề Bác Sĩ Thú Y

Written By Chăn Nuôi on Tuesday, June 18, 2013 | 7:13 AM

Tên gọi
Bác sỹ thú y (BSTY)
Tiếng Anh: Veterinary surgeon
Tiếng Anh Mỹ: Veterinarian
Tiếng Đức: Tierarzt, Doktor Veterinäre
Tiếng Pháp: Docteur vétérinaire
Tên gọi tắt ở nhiều nước (đặc biệt là Mỹ và các nước châu Âu): vet

Nguồn gốc của cách gọi từ chữ veterinae trong tiếng Latin (là gia súc cày kéo).
Đào tạo và cấp bằng ở nước ngoài

Ở hầu hết các nước, nhất là các nước phát triển, danh hiệu nghề nghiệp Bác sỹ thú y dành cho những người đã qua quá trình đào tạo chính quy tại các trường Đại học thú y hay các khoa thú y của một trường đại học đa ngành hay đại học tổng hợp.


Do đặc thù của việc dạy và học nên chi phí để theo học và tốt nghiệp BSTY ở các nước phát triển thường cao. Thời gian học đại học thường kéo dài 6 năm trong đó có 2 năm học các kiến thức cơ bản và cơ sở (premedicine) và 4 năm đào tạo chuyên ngành. Chi phí cho thực hành (mua động vật thí nghiệm,hóa chất, dụng cụ và các bộ kít cho thí nghiệm) tốn kém nên học phí của sinh viên ngành thú y phải trả cao hơn mức học phí trung bình (thường mức học phí chỉ thấp hơn các ngành nghệ thuật, kiến trúc và tương đương học phí các ngành y, nha khoa, dược).

Sau khi hoàn thành tất cả các môn học (lý thuyết và thực hành), sinh viên phải qua một kỳ thi quốc gia để lấy bằng BSTY. Thường thì kỳ thi này rất khó khăn và không phải ai thi cũng đỗ vì nội dung thi bao trùm kiến thức của tất cả các năm học cộng với kỹ năng thực hành. Chỉ những người qua được kỳ thi này mới được phép hành nghề thú y (được khám bệnh, chữa bệnh cho động vật, được mở phòng khám thú y, được quyền ký các giấy tờ liên quan đến dịch bệnh…)

Quy định về chấp nhận bằng BSTY ở các nước cũng khác nhau. Những người có bằng của Anh và New Zealand thường được phép hành nghề tại Úc trong khi BSTY tốt nghiệp từ hầu hết các nước khác phải qua một kỳ thi tại Úc mới có thể được phép làm việc. Nhiều nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan… cũng có hệ thống công nhận tương đương bằng BSTY của nhau.

Tại Hàn Quốc, sau 6 năm học, sinh viên được cấp bằng cử nhân chuyên ngành thú y. Với bằng cử nhân này, sinh viên có thể làm việc trong các lĩnh vực sinh học, y sinh học… và có thể học tiếp sau đại học nhưng chỉ được phép hành nghề thú y khi vượt qua được kỳ thi lấy bằng BSTY vì thế mới có hiện tượng nhiều người đang làm nghiên cứu sinh tiến sỹ cũng chưa có bằng BSTY do sự khác biệt khi công nhận bằng cấp BSTY và những bằng cấp liên quan đến nghiên cứu khoa học thú y (thạc sỹ, tiến sỹ).

Nhìn chung các trường thú y tuyển không nhiều sinh viên cho mỗi khóa học. Số lượng tuyển sinh đầu vào chủ yếu thường dựa trên yêu cầu của xã hội căn cứ vào thông tin nghiên cứu thị trường lao động.

Các trường thú y có mối quan hệ mật thiết với các công ty sản xuất thuốc thú y, chế biến dược phẩm và vaccin, các công ty thực phẩm, công ty sản xuất cung ứng các thiết bị sinh y học, các hiệp hội chăn nuôi… Ngoài ngân sách nhà nước, các công ty là nguồn cung cấp tài chính cho 
 đào tạo và nghiên cứu của các trường thú y…
 
Đào tạo và cấp bằng ở Việt Nam

Ở Việt Nam ta, mọi việc có vẻ nhẹ nhàng hơn khi sinh viên thú y không phải đóng học phí cao hơn các ngành khác. Thi đỗ để vào học cũng dễ hơn do không có nhiều học sinh muốn chọn nghề liên quan đến công việc nhà nông nói chung và công việc của bác sỹ thú y nói riêng. Một lý do nữa là tên của ngành học cũng như của nghề không hấp dẫn, có vẻ không “hiện đại” như tên các ngành học khác.

Sau khi học từ 4,5 đến 5 năm và qua bảo vệ luận văn tốt nghiệp (trước đây có cả thi tốt nghiệp), sinh viên được cấp bằng BSTY và có thể làm việc ngay (tuy mức độ thành thạo trong nghề còn phụ thuộc vào mỗi người).

Để tham khảo danh mục các môn học trong chương trình đào tạo, bạn có thể đọc trang veterinary hoặc website của khoa thú y trường Đại học Nông nghiệp 1 [1].

Các trường đại học có đào tạo BSTY của nước ta bao gồm Đại học Nông nghiệp I (Gia Lâm, Hà Nội), Đại học Nông lâm (thuộc Đại học Thái Nguyên), Đại học Nông lâm (thuộc Đại học Huế), Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh (tại quận Thủ Đức), Đại học Cần Thơ, Đại học Tây Nguyên. Một số đại học mới đào tạo hoặc liên kết đào tạo trong những năm gần đây như Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa), đại học Lương Thế Vinh (Nam Định)…Nếu không học đại học bạn có thể học cao đẳng ngành thú y tại các trường cao đẳng. Ngoài ra bạn có thể theo học trung cấp thú y tại nhiều trường Trung học chuyên nghiệp.

Cũng như các ngành khác, sau khi tốt nghiệp đại học bạn có thể học và nghiên cứu tiếp để lấy bằng thạc sỹ và sau đó là bằng tiến sỹ.

Do số lượng sinh viên ngành thú y ngày càng tăng (chủ yếu do nhu cầu và khả năng học đại học tăng nhanh) trong khi cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo ở các trường còn thiếu thốn (chưa nói đến hiện đại) nên quá trình đào tạo bác sỹ thú y của còn nhiều khó khăn. Các cơ sở đào tạo cũng đang có nhiều cố gắng để khắc phục điều này. Hơn nữa cũng phải nhìn nhận rằng hầu hết các trường đại học của ta đều có khó khăn về cơ sở vật chất đáp ứng đủ cho đào tạo bác sỹ, kỹ sư.
 
Công việc của BSTY
Trước đây ta đã quen với hình ảnh các cán bộ thú y đạp xe đi tiêm động vật ốm hay thiến hoạn gia súc gia cầm cho bà con nông dân.

Ngày nay những bác sỹ thú y vẫn nhiệt tình với công việc đó nếu bà con cần vì đó chính là chuyên môn của họ. Nhưng thực tế ngoài những công việc này, bác sỹ thú y phải làm và có thể làm nhiều việc khác:

- Mở phòng khám thú y tư nhân: Nhiều BSTY (chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh mở phòng khám thú y chữa bênh cho động vật cảnh).

- Làm việc trong các cơ quan ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn các cấp từ cơ sở đến trung ương.

- Làm việc trong các viện nghiên cứu như Viện chăn nuôi, Viện thú y, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Viện vệ sinh dịch tễ, viện KHKT Nông nghiệp,…

- Làm việc tại các trung tâm kiểm dịch như kiểm dịch tại các sân bay quốc tế, cửa khẩu, cảng biển, các phòng thí nghiệm thuộc các trung tâm kiểm dịch…

- Làm việc tại các công ty, nhà máy chế biến thực phẩm (công việc chủ yếu là kiểm tra chất lượng sản phẩm – KCS).

- Làm việc cho các chương trình phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng của các tổ chức trong nước và tổ chức quốc.

- Nhiều BSTY mở các công ty sản xuất và phân phối thuốc thú y, vaccin, thức ăn gia súc, cùng với các kỹ sư chăn nuôi sản xuất và cung ứng con giống hay dịch vụ kỹ thuật chăn nuôi và phòng bệnh cho vật nuôi…

- Đi dạy học (làm giáo viên) cũng là một công việc của BSTY. Nhiều BSTY sau khi tốt nghiệp trở thành giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và dạy các môn học liên quan đến chuyên môn họ đã được đào tạo. Có nhiều người trở thành giáo viên trong các trường phổ thông.

- Ở nhiều nước, BSTY có mặt trong các cơ quan an ninh với nhiệm vụ khám chữa bênh cho các động vật phục phụ an ninh quốc phòng như ngựa, chó nghiệp vụ hay các công việc nghiên cứu phòn chống vũ khí sinh học (xem bài về khủng bố sinh học)
 
Vai trò của BSTY
Sau khi được bồi dưỡng các môn học về thú y học cơ bản (giải phẫu thú y, tổ chức phôi thai học, sinh lý học…); thú y học chuyên ngành (vi sinh vật, bệnh truyền nhiễm, dịch tễ học, bệnh nội khoa, bệnh ký sinh trùng, phẫu thuật ngoại khoa, dược lý thú y, độc chất học v.v.), BSTY tham gia vào mạng lưới phòng chống dịch bệnh động vật nông nghiệp, động vật cảnh; an toàn thực phẩm và phòng bệnh cho người.

Thú y và khoa học thú y phối hợp với các ngành y tế, sinh học trong sản xuất và kiểm định vacxin, kiểm định dược phẩm hay nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn quỹ gene….

Đặc biệt tong bối cảnh giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, dịch bệnh từ một địa điểm bất kỳ trên thế giới có thể trở thành hiểm họa toàn cầu một cách nhanh chóng. Trong xã hội công nghiệp và ô nhiễm chất thải, con người có thể trở thành nạn nhân của các vụ ngộ độc bất kỳ lúc nào nếu không có những hiểu biết để đề phòng ngừa nên BSTY cùng với BS Y khoa và những nhà nghiên cứu y sinh học có “thêm nhiều việc để làm hơn”…

Vì những lý do kể trên và nhiều lý do khác nữa nên những lĩnh vực nghiên cứu của thú y và khoa học thú y cũng như BSTY không thể thiếu trong đời sống của chúng ta.
 
Một số đóng góp của BSTY cho nhân loại
Các BSTY trên thế giới phát hiện oncovirus, nghiên cứu phân lập Salmonella, Brucella, nhiều yếu tố gây bênh khác.

Các BSTY nước ta và các nước khác luôn đi tiên phong trong việc phòng chống dịch bệnh cho động vật để góp phần ổn định an ninh lương thực; ngăn ngừa dịch bệnh lây nhiễm sang người.
Ở Mỹ, BSTY có đóng góp cực kỳ quan trọng trong nỗ lực chung dập tắt dịch xuất huyết và virus sông Nile.

BSTY là người đầu tiên nghiên cứu phát hiện chất chống đông ứng dụng điều trị bệnh tim ở người (BSTY. Frank Schofiel của Canada).

Phát triển phương pháp phẫu thuật khớp chậu, kỹ thuật chuyển ghép tạng để ứng dụng trong y học.

Nghiên cứu phát triển nhiều phương pháp ứng dụng trong y học, bảo về môi trường…
….
Cũng như những nghề khác, thành công của BSTY phụ thuộc vào lòng yêu nghề và khả năng của mỗi người!
Theo Nguyễn Bá Tiếp

Một Số Thông Tin Về Bệnh Sốt Q (Query)

Người viết: Đỗ Hữu Dũng
Trong thời gian qua, tại Hà Lan đã xảy ra ổ dịch Sốt Qtrên gia súc và trên người. Trong đợt dịch này, tính đến ngày 30/01/2010, đã phát hiện bệnh ở 63 trang trại nuôi dê sữa với tổng số 37.000 con dê đã bị tiêu hủy. Ngày 25/01/2010, phát hiện thêm 01 trang trại cừu sữa mắc bệnh. Ngày 27/01/2010 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Verburg và Bộ trưởng Bộ Y tế Klink đã có phiên điều trần trước Hạ viện về các biện pháp khống chế ổ dịch này, vốn được xác định là nguyên nhân gây ra 46 ca bệnh trên người ở Hà Lan. Lần đầu tiên bệnh được phát hiện trên người vào năm 2007, đến cuối năm 2009 chính phủ Hà Lan đã quyết định áp dụng các biện pháp khống chế nghiêm ngặt. Theo Bộ Y tế và Viện Y tế cộng đồng và Môi trường, đã có 6 ca bệnh tử vòng trong tổng số khoảng 3.600 bệnh nhân nhiễm Sốt Q. Bệnh Sốt Q chưa từng được ghi nhận tại Việt Nam, tuy nhiên, để tăng cường giám sát bệnh,đề phòng bệnh xâm nhập vào Việt Nam, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin tóm tắt về bệnh.


Sốt Query (Q) là bệnh truyền lây từ động vật sang người xảyra ở nhiều nước trên thế giới. Con người nhiễm bệnh thông qua tiếp xúc với vật mang trùng, đặc biệt là động vật nhai lại. Sốt Q là bệnh có tính truyền nhiễmcao, do vi khuẩn Coxiella burnetii gây ra. Đây là vi khuẩn nhỏ đa hình thái, kích thước dài từ 0.3–1.5 μm × chiều rộng 0.2–0.4 μm. Do là vi khuẩn ký sinh nội bào nên C. burnetii chỉ có thể mọc trên môi trường trứng có phôi hoặc môi trường tế bào và khi cần thiết thì qua tiêm truyền cho động vật thí nghiệm. Có hai dạng kháng thể: kỳ I độc lực cao, thấy trên động vật hoặc người nhiễm bệnh và kỳ II độc lực thấp, thu được khi tiêm truyền liên tục qua trứng có phôi hoặc môi trường tế bào. 

Ở trên người, Sốt Q xảy ra ở thể cấp tính (sốt ngắt quãng từng cơn, viêm phổi, viêm gan) hoặc thể mạn tính nặng (viêm nội mạc tim) sau khi nhiễm bệnh mà không biết. Thể cấp tính sẽ qua đi khá nhanh nếu được điều trị bằng kháng sinh phù hợp nhưng thể mạn tính cần điều trị dài hạn bằng kháng sinh (trong vòng 2 năm hoặc hơn), kết hợp với giám sát huyết thanh học. Một số nước sử dụng vắc xin để tiêm phòng cho quần thể gia súc mẫn cảm.

Triệu chứng ở bò bao gồm sảy thai, chết hoặc để non, sát nhau, viêm tử cung và vô sinh. Ở động vật nhai lại nhỏ, Sốt Q thường gắn với sảy thai thường kỳ hoặc các đợt dịch xảy thai xuất hiện sau khi con vật hồi phục khi không bị kế phát. Bệnh do Coxiella burnetii gây nên thường kéo dài nhiều năm, có khi tồn tại cả đời. Cừu, dê và bò là những vật mang trùng chính nhưng có thể thải trừ khối lượng lớn vi khuẩn khi đẻ và thải trừ theo từng đợt ngắt quãng. Động vật nuôi như chó, mèo, thỏ, gia cầm, v.v… cũng mẫn cảm với bệnh và phải được xem là nguồn lây bệnh tiềm tàng cho động vật và cho người.

Chẩn đoán phát hiện tác nhân gây bệnh:

Để chẩn đoán phòng thí nghiệm, có thể lấy mẫu nhau thai, dịch tử cung và gan, phổi hoặc chất chứa dạ dày của thai bị sảy hoặc lấy mẫu sữa, sữa đầu và phân.

Có thể thấy vi khuẩn khi quan sát trên tiêu bản kính nhuộm màu khi quan sát bằng kính hiển vi với thấu kính ngâm dầu. Vì vi khuẩn này có sứckháng a-xít nên có thể nhuộm bằng nhiều phương pháp như: Stamp, modified Ziehl–Neelsen, Gimenez, Giemsa và modified Koster. Khi phát hiện thấy tác nhângây bệnh và kết hợp với các phương pháp huyết thanh học, triệu chứng lâm sàng và khi không có tác nhân gây bệnh sảy thai khác thì có thể kết luận chẩn đoán rằngđó là do bệnh Sốt Q ở cấp độ đàn.

Ngày nay, phương pháp tổ chức phôi – miễn dịch sử dụng các kháng thể đặc hiệu hoặc phương pháp phản ứng chuỗi polymerase (PCR) đã chứng tỏ là những phương pháp đặc hiệu và nhạy hơn so với các phương pháp nhuộm trước đây. Hiện nay trên thị trường không có các kháng thể đặc hiệu cho phương pháp hóa miễn dịch nhưng có thể tiến hành làm PCR nếu có thiết bị phòng thí nghiệmthích hợp. PCR được coi là phương pháp tốt để sàng lọc số lượng lớn mẫu bệnh phẩmvà khi có nhiều loại mẫu khác nhau. Hơn nữa, có thể xử lý mẫu bằng nhiệt để đảm bảo an toàn cho nhân viên phòng thí nghiệm.

Có thể phân lập Coxiella burnetii bằng cách nuôi cấy trênmôi trường tế bào thông thường hoặc tiêm vào túi khí trứng gà có phôi hoặc tiêm cho động vật thí nghiệm. Tiêm truyền cho động vật thí nghiệm (chuột lang, chuộtvà chuột hamster) là phương pháp hữu ích trong trường hợp cần phân lập vi khuẩn từ bệnh phẩm tạp nhiễm với nhiều vi sinh vật khác nhau hoặc để có được các kháng nguyên Coxiella kỳ I.

Các phương pháp huyết thanh học: Việc chẩn đoán Sốt Q thường thường dựa vào các phương pháp huyết thanh học. Có thể sử dụng một số phương pháp, đặc biệt là phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, phản ứngmiễn dịch hấp phụ liên kết enzyme và phương pháp cố định bổ thể. Hiện nay, các phương pháp có trên thị trường cho phép phát hiện kháng thể C. burnetii kỳ II. Sựhiện diện của kháng thể đặc hiệu IgG là bằng chứng về việc gần đây mới mắc hoặc trước đó đã phơi nhiễm với C. burnetii.

Các yêu cầu đối với vắc xin và sinh phẩm chẩn đoán: Có một số loại vắc xin chết phòng Sốt Q đã được phát triển nhưng chỉ những vắc xin có chứa hoặc được chế từ C. burnetii kỳ I thì mới được xem là gây được miễn dịch bảo hộ. Người ta khuyến cáo sử dụng vắc xin tiêm hàng năm ở những vùng có dịch nặng, nhất là tiêm cho gia súc non.

Ở Slovakia có bán loại vắc xin chết kỳ I. Một nghiên cứu gần đây cho thấy vắc xin này có hiệu quả cả làm giảm cả hiện tượng sảy thai và thải trừ C. burnetii trên dê có chửa được tiêm phòng thí nghiệm, sau đó công cường độc nhưng vẫn chưa có thông tin về độ an toàn của vắc xin này.

Bác Sỹ Thú Y – Lương Cao Hơn Bác Sỹ Cho Người?

Written By Chăn Nuôi on Saturday, June 8, 2013 | 3:32 AM

Nếu bạn yêu thích động vật và khoa học, bạn có thể muốn trở thành một bác sĩ thú y (BSTY).

I. Vai trò và công việc của Bác sỹ thú y:
Ngày nay, tình hình dịch bệnh lây truyền từ động vật sang người ở nhiều nơi rất khó kiểm soát, gây những tác hại khó lường do đó nghề Thú y có vai trò quan trọng không kém nghề Nhân y góp phần đẩy lùi những đại dịch. Với những kiến thức về thú y học cơ bản (giải phẫu thú y, tổ chức phôi thai học, sinh lý học...); thú y học chuyên ngành (vi sinh vật, bệnh truyền nhiễm, dịch tễ học, bệnh nội khoa, bệnh ký sinh trùng, phẫu thuật ngoại khoa, dược lý thú y, độc chất học v.v.), BSTY tham gia vào mạng lưới phòng chống dịch bệnh động vật nông nghiệp, động vật cảnh (thú cưng); an toàn thực phẩm và phòng bệnh cho người.

 Kỳ 5: Bác sỹ thú y – Lương cao hơn Bác sỹ cho người?

Ở hầu hết các nước, danh hiệu BSTY dành cho những người đã qua quá trình đào tạo chính quy tại các trường Đại học thú y hay các khoa thú y của một trường đại học đa ngành hoặc đại học tổng hợp. Trong nghề thú y có nhiều loại công việc như: phòng, chữa bệnh, xét nghiệm…

Sau khi tốt nghiệp ngành thú y, bạn có nhiều lựa chọn về việc làm, bao gồm làm việc trong một phòng khám đa khoa hay bệnh viện cho thú cưng; trong ngành chăn nuôi gia súc, trang trại và kiểm soát dịch bệnh; trong các khu bảo tồn động vật hoang dã hay sở thú; các cơ quan nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật thú y. Ngoài ra có thể tham gia giảng dạy, nghiên cứu ở các Trường, Viện chuyên ngành. Ở nhiều nước, BSTY còn có mặt trong các cơ quan an ninh với nhiệm vụ khám chữa bênh cho các động vật phục phụ an ninh quốc phòng như ngựa, chó nghiệp vụ hay các công việc nghiên cứu phòn chống vũ khí sinh học.

II. Điều kiện làm việc của Bác sỹ thú y tại nước ngoài:

Ở nước ngoài, phần lớn các BSTY đều làm việc trong lĩnh vực điều trị thú cưng bao gồm chó, mèo, chuột nhảy (gerbil), chỉ có một số ít tập trung vào các động vật lớn như cừu, bò, ngựa, Theo số liệu của Cục thống kê lao động Mỹ, có 81% BSTY làm việc trong ngành công nghiệp dịch vụ thú y hay các phòng khám tư nhân. Những người khác làm việc tại các trường cao đẳng hoặc đại học, các phòng thí nghiệm nghiên cứu y tế của tư nhân hoặc liên bang, tiểu bang hay chính quyền địa phương. Khoảng 9% tự kinh doanh.

Việc làm của bác sĩ cho thú cưng dự kiến ​​sẽ tăng 36% từ 2010 đến 2020, nhanh hơn rất nhiều so với mức trung bình của tất cả các ngành nghề tại Mỹ. Sự cần thiết của BSTY sẽ tăng lên để theo kịp với nhu cầu của số lượng thú cưng ngày càng tăng. Nhiều người cho rằng thú cưng cũng là một thành viên của gia đình của họ và sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho việc chăm sóc chúng. Bên cạnh đó, ngành thú y đã có những bước tiến đáng kể, nhiều dịch vụ thú y ngày nay phát triển sánh ngang với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho con người, trong đó có cả phương pháp điều trị ung thư, ghép thận…

Không một nơi nào trên nước Mỹ không có các phòng khám thú y
Không một nơi nào trên nước Mỹ không có các phòng khám thú y

Mặc dù công việc trong lĩnh vực chăm sóc động vật lớn tại trang trại không phát triển một cách nhanh chóng như chăm sóc thú cưng, tuy nhiên vẫn có rất nhiều việc làm và cơ hội cũng sẽ tốt hơn do ít sự cạnh tranh hơn. Trong tương lai cũng sẽ có nhiều cơ hội tuyệt vời cho công việc BSTY của chính phủ trong công tác an toàn thực phẩm, sức khỏe động vật và con người.

Trong Top 25 công việc tốt nhất năm 2013 do tạp chí US News & World Report công bố, BSTY xếp ở vị trí số 12 với mức lương trung bình 82.900 USD/năm và tỷ lệ thất nghiệp cực kỳ thấp 0,6%. Nhóm những BSTY được trả lương cao nhất có thể lên tới 141.680 USD/năm, thấp hơn so với các bác sỹ nhân y với lương trung bình là 183.170 USD/năm. Những thành phố của Mỹ trả mức lương cao nhất cho BSTY làNew Haven, bang Connecticut; Lakeland-Winter Haven, bang Florida, Newark, bang New Jersey.

III. Việc đào tạo và cấp bằng Bác sỹ thú y ở nước ngoài

Để trở thành BSTY không phải là một việc dễ dàng, điểm để được vào học tại trường đại học đào tạo chuyên ngành thú y cũng gần bằng điểm vào những trường đào tạo các ngành chữa bệnh cho con người. Thời gian học đại học thường kéo dài 6 năm trong đó có 2 năm học các kiến thức cơ bản và cơ sở (premedicine) và 4 năm đào tạo chuyên ngành.

Do đặc thù của việc dạy và học nên chi phí để theo học và tốt nghiệp BSTY ở các nước phát triển thường cao. Chi phí cho thực hành (mua động vật thí nghiệm, hóa chất, dụng cụ và các bộ kít cho thí nghiệm) tốn kém nên học phí của sinh viên ngành thú y phải trả cao hơn mức học phí trung bình (thường mức học phí chỉ thấp hơn các ngành nghệ thuật, kiến trúc và tương đương học phí các ngành y, nha khoa, dược).

Sau khi hoàn thành tất cả các môn học (lý thuyết và thực hành), sinh viên phải qua một kỳ thi quốc gia để lấy bằng BSTY. Chỉ những người qua được kỳ thi này mới được phép hành nghề thú y (được khám bệnh, chữa bệnh cho động vật, được mở phòng khám thú y, được quyền ký các giấy tờ liên quan đến dịch bệnh...).

Quy định về chấp nhận bằng BSTY ở các nước cũng khác nhau. Những người có bằng của Anh và New Zealand thường được phép hành nghề tại Úc trong khi BSTY tốt nghiệp từ hầu hết các nước khác phải qua một kỳ thi tại Úc mới có thể được phép làm việc. Nhiều nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan... cũng có hệ thống công nhận tương đương bằng BSTY của nhau.

Thành công của BSTY phụ thuộc vào lòng yêu nghề và khả năng của mỗi người
Thành công của BSTY phụ thuộc vào lòng yêu nghề và khả năng của mỗi người

IV. Học ngành Thú y tại Úc:
Một văn bằng thú y của Úc bảo đảm cho sinh viên đủ tiêu chuẩn đăng ký hành nghề tại Úc, New Zealand và trong một số trường hợp được Hiệp Hội Thú Y Hoa Kỳ và trường Cao đẳng Thú Y Hoàng Gia tại Anh Quốc công nhận. Do đó, các bạn có thể chọn du học Úc để bắt đầu hoặc tiếp tục nghề nghiệp của bạn. Kinh nghiệm làm việc tại Úc cùng với một văn bằng được quốc tế công nhận sẽ là lợi thế lớn cho bạn khi xin việc sau này. Các trường Đại học cung cấp chương trình đào tạo ngành thú y từ Chứng chỉ IV (1 năm) đến chương trình cử nhân (5-6 năm), thạc sỹ (1-2 năm), tiến sỹ (3-4 năm):
·      Charles Sturt University
·      James Cook University
·      Murdoch University
·      University of Melbourne
·      University of Adelaide
·      University of Queensland
·      University of Sydney


Thành công của BSTY phụ thuộc vào lòng yêu nghề và khả năng của mỗi ngườiAndrea, người Canada – Cựu du học sinh Đại Học Melbourne cho biết: “Với kiến thức và kinh nghiệm học hỏi được khi còn là sinh viên ngành thú y, tôi cảm thấy tự tin rằng mình đã có một nền tảng vững chắc và những kỹ năng cần thiết để cho phép tôi vượt qua kỳ thi của Ủy Ban Thú Y Quốc Gia và hành nghề thú y ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Khóa học cho phép tôi khám phá nhiều lĩnh vực y học thú y bao gồm thực hành tổng quan, thực hành chuyên môn và nghiên cứu.
Các giảng viên cũng giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều.” Ban đầu Andrea tới Úc vì danh tiếng quốc tế và chương trình đào tạo đa dạng của trường đại học mà cô lựa chọn. Cô đã có kinh nghiệm làm việc tại Úc trong suốt thời gian bốn năm của khóa học. Những điều này đã giúp cô kiếm được việc làm khi quay về Bắc Mỹ.


Thông tin quan trọng:
1. Nhu cầu tuyển dụng, thu nhập của BSTY tại Úc: tại đây
2. Tìm kiếm các khóa học CTXH tại Úc, tại Canada, tại Anh, tại Mỹ, tại New Zealand
3. Đăng kí các khóa học và các chỉ dẫn về du học, visa du học, thông tin liên quan tại đây.
4. Các Tổ chức thú y quốc tế:
·      Tổ chức Thú y Thế giới (OIE): www.oie.int/
·      Tổ chức Thú y Quốc tế (IFAH):  www.ifahsec.org/
Hiệp Hội Thú Y Úc: www.ava.com.au/

Những chỉ dẫn thêm về ngành Thú y cũng như việc xin học, visa du học, cơ hội làm việc và định cư tại các nước phát triển, vui lòng xem thêm tại:  www.ducanhduhoc.com   hoặc điện thoại: 04 3971 6229 - 08 3929 3995 - 031 3686 689, email: duhoc@ducanh.edu.vn


Ban nghiên cứu thông tin thị trường việc làm - tuyển dụng
ĐỨC ANH A&T
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com