Latest Post

Showing posts with label Cho Meo. Show all posts
Showing posts with label Cho Meo. Show all posts

Điều Trị Sỏi Tiết Niệu Theo Phương Pháp Nội Khoa

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 6:23 AM

Vũ Kim Chiến
Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị
Chi cục Thú y TP. Hồ Chí Minh

Sỏi tiết niệu là bệnh lý thường gặp trên hệ tiết niệu của chó. Theo số liệu thống kê năm 2011 của Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị - Chi cục Thú y TP. Hồ Chí Minh, qua 1570 ca bệnh lý hệ tiết niệu được chẩn đoán bằng kỹ thuật siêu âm đã ghi nhận được 675 ca sỏi niệu (chiếm 43%). Sỏi tiết niệu là một trong những nguyên nhân gây suy thận mãn tính trên chó.

Tùy theo vị trí, sỏi tiết niệu bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo. Trên thực tế sỏi thận rất hiếm gặp ở chó vì đa số sỏi niệu được hình thành ở bàng quang.

Theo thành phần hóa học sỏi tiết niệu bao gồm sỏi struvite, sỏi urate, sỏi oxalate và sỏi cystin…( xem hình 1,2,3)Trên 50% sỏi bàng quang là sỏi struvite, còn lại là sỏi oxalate, sỏi urate và sỏi cystin. Sỏi struvite thường gặp trên chó cái. Sỏi tiết niệu xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến ở giai đoạn 4 – 6 năm tuổi.

Nhiễm trùng đường niệu do Staphylococcus spp là một yếu tố đáng lưu ý trong việc hình thành sỏi struvite.


                                         Hình 1: Sỏi struvite                   Hình 2: Sỏi urate

Hình 3: Sỏi oxalate

Triệu chứng lâm sàng của bệnh lý sỏi tiết niệu trên chó là đi khom lưng, tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu không kiểm soát, tiểu ra máu hoặc bí tiểu. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp không có biểu hiện lâm sàng và chỉ được phát hiện tình cờ qua kiểm tra sức khỏe định kỳ. Chẩn đoán sỏi tiết niệu được thực hiện bằng phương pháp siêu âm hoặc chụp X-quang hệ niệu không dùng thuốc hoặc có dùng thuốc cản quang và xét nghiệm nước tiểu (hình 4,5,6,7).

Hình 4: Sỏi bàng quang trên chó cái:Viên sỏi (mũi tên đỏ) có hiện tượng tăng âm, kích thước đo được là 5,35 cm, kèm theo đó là vùng bóng lưng (mũi tên trắng).

Hình 5: Sỏi niệu đạo (mũi tên đỏ) trên chó đực, Sỏi cũng có hình ảnh đặc trưng là tăng âm và có bóng lưng. U: Urethral (niệu đạo); B: Bladder (bàng quang).

Hình 6: Sỏi thận hai bên với kích thước sỏi đo được lần lượt là 2,92 cm và 2,58 cm

Hình 7: Sỏi thận trái có kích thước 2,08 cm; thận phải ứ nước hoàn toàn, vùng vỏ thận mỏng (mũi tên xanh), vùng tủy thận có hồi âm trống (mũi tên tím).

Điều trị sỏi tiết niệu là một công việc rất phức tạp và lâu dài. Tùy vào vị trí sỏi, kích thuớc sỏi, thành phần hóa học của sỏi cũng như tình trạng ứ nước của thận để lựa chọn cách điều trị thích hợp: điều trị nội khoa hoặc điều trị ngoại khoa hoặc phối hợp cả hai phương pháp. Dưới đây xin gợi ý một vài phác đồ điều trị nội khoa sỏi tiết niệu.

Thuốc kháng sinh: Khi chó có các dấu hiệu của viêm thận, viêm bàng quang thì cần sử dụng một trong những loại kháng sinh có tác dụng trên đường tiết niệu để điều trị: Nhóm cephalosporin từ thế hệ thứ hai trở đi (cefuroxim, ceftriaxon, cefepim); Nhóm quinolon (norfloxacin, enrofloxacin). Cần lưu ý tránh các kháng sinh gây độc trên thận (như nhóm aminoside).

Thuốc lợi tiểu và truyền dịch: Có thể sử dụng dung dịch glucose 5%, NaCl 0,9%, thuốc lợi tiểu furosemide.

Thuốc giảm đau, an thần tác động đến hệ thần kinh trung ương: Sử dụng trong trường hợp thú có dấu hiệu đau quặn vùng thắt lưng, tuỳ thuộc vào mức độ đau mà có thể chọn một trong các loại thuốc sau: ketoprofen (cho uống 2 mg/kg thể trọng ngày đầu tiên, sau đó giảm còn 1 mg/kg thể trọng mỗi ngày); piroxicam (0,3 mg/kg thể trọng cho uống mỗi 2 ngày); diazepam (2 – 10 mg cho uống 3 lần mỗi ngày).

Thuốc chống co thắt, gây giãn cơ trơn, giãn niệu quản: No-spa, Spasfon.

Thay đổi chế độ dinh dưỡng: Khẩu phần ăn ít đạm, ít khoáng…

Sử dụng thuốc bào mòn và làm tan sỏi: Thực tế ít có thuốc nào có khả năng làm tan sỏi. Mục đích sử dụng các thuốc này là làm thay đổi môi trường pH nước tiểu, làm giảm khả năng các tinh thể sỏi kết dính lại với nhau từ đó làm chậm quá trình hình thành sỏi:

+ Ammonium chloride trong sỏi struvite: cho uống liều 200 mg/kg thể trọng/ngàychia làm 3 lần.
+ Allopurinol trong sỏi urate: cho uống theo liều 30 mg/kg thể trọng/ngày chia làm 2– 3 lần.
+ Methionine trong sỏi struvite: 0,2 – 1g cho uống mỗi ngày 3 lần./.

Sưu tầm: http://vetbookshop.blogspot.com

Bệnh Dịch Hạch Ở Chó

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 13, 2013 | 11:04 PM

Bệnh dịch hạch ở chó là 1 căn bệnh truyền nhiễm rất mãnh liệt, chủ yếu là ở chó non. Những con chó già tuổi cũng dễ bị mắc bệnh dịch hạnh. Ngoài ra bệnh dịch hạch còn lây truyền sang cả mèo và sang cả các động vất ăn thịt (chồn hôi, thuỷ thắt (con rái cá nâu - ND), chó núi, linh cẩu vằn, chó sói, cáo v.v…). 

Tác nhân gây ra bệnh dịch hạch là virus. Bệnh dịch hạch lây truyền qua đường hít thở (hô hấp - ND) và đường tiêu hoá. Sau khi lọt vào cơ thể virus cụ chăm sóc, thức ăn, ôi thiu Là nơi ở và đệm đã có chó ốm ở và nằm hoặc có thể do người, do các phương tiện giao thông.

Từ lúc bị lây bệnh đến lúc xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên của bệnh là phải trải qua 1 thời gian ủ bệnh. Giai đoạn ủ bệnh kéo dài từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 21. Trong thời gian này chó vẫn khoe mạnh nhưng đã có thể truyền bệnh sang các con chó khác. Chó đã bị mắc bệnh dịch hạch thì trước 3 tháng trong cơ thể có virus và có thể tủyền bệnh sang những con chó khác.

Các dấu hiệu của bệnh: Khi chó mới bị mắc bệnh dịch hạch thì rất khó để phát hiện. Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh là: chó hơi khó chịu, uể oải, mệt nhẹ, lông xù lên, ăn kém, thỉnh thoảng nôn mửa, có vẻ chối từ công việc, niêm mạc mắt … mồm đỏ lên, nước mắt và nước mũi chảy ra nhưng không nhiều, hơi bị đi tháo dạ.

Những dấu hiệu này có thể thể hiện ở những con chó này thì mãnh liệt hơn nhưng ở những con chó khác thì lại yếu hơn. Khi vừa mới bắt đầu bị mắc bệnh, nhiệt độ cơ thể của chó tăng lên đến 39,5oC - 40 oC, nhiêệ độ như vậy kéo dài trong 2 đến 3 ngày liền, sau đó dần dần nhiệt độ hạ xuống mức bình thường.

Đối với những con chó khoẻ thì đến đây ta có thể nói là đã kết thúc bệnh tật và dần dần hồi phục là sức khoẻ, nhưng đối với những con chó yếu thì sức khoẻ bề ngoài tưởng là bình phục nhưng nhiệt độ lại bỗng dưng tăng lên đến 40oC - 41oC và sự thương tổn các niêm mạc lại trầm trọng hơn. Nước mũi chảy ra nhiều, biến thành mủ và có màu sắc vàng - xanh, 2 mí mắt khép lại, chó sợ ánh sáng, đôi khi giác mạc mắt vẩn đục. Niêm mạc mũi đỏ lên, phù, nước mũi khô lại và nứt ra. Chó hắt hơi, mũi cọ vào chân, hay liếm mép. Sau đó nước mũi lại chảy ra, lúc đầu trong, sau đó là chất mủ. Nước mũi chảy ra bịt kín các ngách mũi, đóng thành vảy xung quanh vành mũi làm cho chó rất khó thở.

Nếu bệnh tiến triển theo chiều hướng nặng thêm thì chó sẽ bị ho. Lúc đầu chó ho khan, đau cổ, sau đó ho ẩm và có đờm. Khi chó bị thương tổn đường hô hấp sâu thì chó sẽ bị viêm phế quản - phổi, nhịp thở khoảng từ 60 - 80 trong 1 phút, nước mủ từ mũi chảy ra, có màu xám - vàng - xanh và mùi rất khó chịu. Chó ho đau đơn, 2 má sưng to lên, đi lại rất khó khăn, nằm rên, không ăn uống gì. Khi bị bệnh dịch hạch chó đang bị táo bón cũng nhanh chóng chuyển sang tình trạng đi tháo dạ. Phần lớn các trường hợp bệnh đau dạ dày - ruột lại tiến triển như bị viêm dạ dày - ruột rất nặng và thường là chó bị chết.

Lúc bệnh ở thời điểm cao độ hoặc lúc trạng thái cơ thể đã bắt đầu khá lên thì xuất hiện sự thương tổn hệ thần kinh: chó khó chịu, hay sợ hãi, sự cảm giác giảm sút hoặc sự kích thích các cơn co giật của các nhóm cơ khác nhau tăng lên. Thông thường các cơn đau thần kinh kết thúc bằng các được cắt các cơ quan riêng biệt, tức là ở chó có thể xuất hiện sự rối loạn chuyển động, hoặc bị mù, bị điếc, hoặc mất cảm giác khứu giác, sa lưỡi, tứ chi và đuôi bị bại liệt. Bệnh dịch hạch có thể có dạng rất dễ nhận ra dấu hiệu của bệnh, ví dụ như bệnh đau dạ dày - ruột, bệnh thuộc về các cơ quan hô hấp hoặc bệnh thuộc về hệ thống thần kinh trung ương.
 

CHỐNG BỆNH DỊCH HẠCH Ở CHÓ 
Cần phòng cho chó tránh khỏi bệnh truyền nhiễm (virus bệnh dịch hạch). Nuôi dưỡng chó nghiệp vụ ở những nơi kín, không cho tiếp xúc với chó lạ, mèo lạ hoặc các động vật khác dễ bị mắc bệnh dịch hạch. 

Hàng năm các bộ phận thú y chuyên khoa phải đặt ra thời gian tiêm phòng cho chó để chống bệnh dịch hạch. Có thể tiêm phòng dịch cho chó con ngay từ khi chúng bước sang tháng tuổi thứ 3.

Phải đặc biệt quan tâm đến những con chó gầy yếu và bị rối loạn hệ thần kinh mặc dù không đáng kể, phải xem xét kỹ chúng như những con vật có khả năng truyền virus.

Cần giúp cơ thể chó chống lại các bệnh truyền nhiễm. 
Khi phát hiện thấy các dấu hiệu của bệnh dịch hạch hoặc nghi ngờ một số con chó đã mắc bệnh dịch hạch thì phải mau chóng tách chúng ra khỏi các con chó đang khỏe và nuôi cách ly. Những con chó con thì phải theo dõi và đo nhiệt đô cho chúng hàng ngày vào buổi sáng và buổi chiều. Sau mỗi lần đo nhiệt độ cho chó cần sát trùng bằng dung dịch natri hydro

Tất cả các con chó có nhiệt độ cơ thể tăng thì phải cách ly chúng, mọi hoạt động tập luyện phải ngưng lại và tiến hành tẩy uế chỗ ở của chó một cách cẩn thận. Khí cụ phải sát trùng bằng dung dịch natri hydroxit 2%. Dụng cụ cho ăn và cho uống sau mỗi lần sử dụng phải sát trùng bằng nước sôi.

Khi xuất hiện bệnh dịch hạch phải cho chó ăn tốt hơn, cho chó ở nơi sạch sẽ, khô ráo và có đệm dày. Việc điều trị những con chó bệnh cần tiến hành riêng biệt từng con và phải dưới sự chỉ dẫn của chuyên gia thú y.

Kỹ Thuật Nuôi Chó Con Đang Bú Sữa

Sau khi ra khỏi bụng mẹ, chó con bắt đầu phải chịu đựng điều kiện sống tương đối khắc nghiệt như : nhiệt độ, ôn độ, ẩm độ và điều kiện dinh dưỡng hoàn toàn mới lạ và việc bú sữa mẹ, cơ quan tiêu hóa chính thức hoạt động.

Việc nuôi dưỡng chó con tuân theo một số giai đoạn với những biện pháp kỹ thuật hết sức khoa học, nhằm hướng tới đích là : chó khỏe mạnh, phát triển tốt.

Nuôi chó con đúng khoa học là tạo cho con chó có sức chịu đựng dẻo dai, thích nghi với hoàn cảnh sống Việt Nam, chó luôn cảnh giác với người lạ, khứu giác, thính giác phải nhạy, cũng cần dạy cho chó “vâng lời”.



Muốn có đàn chó con khỏe mạnh cần chú ý đến chất lượng chó bố và chó mẹ. Khi chó mẹ mang thai và cả khi nó nuôi con đều phải được nuôi dưỡng đầy đủ, chú ý chất đạm, khoáng và vitamin.

Chó con mới sinh ra chưa thích nghi với điều kiện sống mới, nên phải quan tâm đầy đủ tới chúng như : đệm lót phải sạch, khô, đảm bảo nhiệt độ ấm thường xuyên (nếu nhiệt độ thích hợp, chó con tản đều, ngủ tốt, nếu quá lạnh chúng chụm vào nhau, quá nóng chúng phân tán nhiều hơn, tỏ ra khó chịu). Chú ý, khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường (mưa bão đột ngột).

Chó con mới sinh ra phải cho bú sữa mẹ, nhất thiết phải được bú sữa đầu (vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể giúp chó con chống đỡ bệnh tật). Khi mới sinh chó chưa có răng, lỗ khe tai đóng lại chó con chuyển động rất khó khăn, mọi hoạt động của chó con lúc này nhờ bản năng như : tìm vú mẹ và bú mút, chó mẹ cũng tạo thuận lợi cho chó con bú sữa. Nếu chó mẹ vụng về (tức là bản năng không phát triển) người chủ chó phải đưa sát mõm chó con vào đầu vú mẹ, lúc này cần theo dõi hành vi của chó mẹ và sự bú mút của chó con, nếu có gì không bình thường cần mời bác sĩ thú y.

Sau khi chó con ra đời được 1 ngày phải theo dõi chúng hoạt động có bình thường không, đồng thời kiểm tra các ngón thừa. Thường sau 3 - 4 ngày người ta phải cắt ngón thừa cho gọn. Mỗi ổ chó sinh ra thường nuôi từ 4 - 7 con tùy khả năng và sự tiết sữa của chó mẹ, từ ngày thứ 3 - 10 cần cắt phần nhọn ở hai chân trước của chó con (đề phòng chúng cào rách vú mẹ) đến ngày thứ 20 cắt lại một lần nữa.

Cần cho chó mẹ ăn đủ chất, chú ý đủ chất đạm (protit, khoáng và vitamin nhóm A, nhóm B).

Trong thời kỳ đầu nuôi chó con chủ yếu bằng sữa chó mẹ, và từ ngày thứ 5 trở đi có thể cho chó con ăn thêm sữa bò.

Việc cho chó con ăn theo một khẩu phần hợp lý có ý nghĩa lớn đến sự phát triển của chó sau này. Khi mới sinh chó được bú sữa mẹ tương đối đủ (nếu được bú no đủ, chó ngủ tốt) nếu thiếu sữa chó cựa quậy đòi ăn.

Sau khi đẻ được 5 - 10 ngày cho chó con ăn thêm sữa hâm nóng, lúc đầu bú bằng vú cao su, về sau rót sữa ra đĩa và dúi mõm chó con vào đĩa có sữa để chó con tự liếm sữa cho quen dần cách “tợp” sữa. Hàng ngày cho mỗi chó con ăn thêm 100 - 200 ml sữa đến khi chó được 120 ngày tuổi.

Chó con được 15 ngày tuổi, cho ăn thêm cháo sữa, có thịt băm (khoảng 20 gam thịt nạc), mỗi ngày cho ăn 1 - 2 bữa.

Từ tuần tuổi thứ ba (21 ngày tuổi) cho chó con ăn thêm cháo gạo ninh nhừ, trộn thịt nạc băm, mỗi ngày cho chó ăn 2 bữa. Từ 30 ngày tuổi trở đi, lượng thịt tăng lên từ 20 - 50 gam cho mỗi ngày.

Cũng từ ngày tuổi thứ 30 trở đi cho ăn thêm khoai tây, rau xanh, lượng rau và khoai tây tăng dần, tăng lượng vitamin.
- Các loại vitamin A và D thường được quan tâm hơn cả, và được bổ sung bằng dầu gan cá thu.
- Các chất khoáng đa lượng và vi lượng rất cần thiết cho quá trình tạo khung xương và tham gia nhiều quá trình trao đổi chất.
- Chó con dưới 120 ngày tuổi, mỗi ngày cho ăn 5 bữa, từ 4 - 6 tháng tuổi, mỗi ngày cho ăn 4 bữa, từ 6 tháng trở lên mỗi ngày cho ăn 3 bữa hoặc 2 bữa, lượng thức ăn được tăng dần theo mức độ phát triển của cơ thể chó con. Cần quan tâm đến độ choán dạ dày chó con.
Chó con từ 30 - 60 ngày tuổi mỗi bữa cho ăn từ 100 - 200 ml thức ăn, từ 2 - 4 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn từ 0,2 - 0,3 lít. Từ 6 - 11 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn 0,4 lít hỗn hợp thức ăn (tùy chó lớn hay bé mà điều chỉnh dung tích thức ăn).

Theo dõi tình hình phát triển bình thường của chó con theo một trình tự như sau : chó con sinh ra được 5 - 8 ngày, khe tai mở, thính giác bắt đầu phát triển, đến 11 - 16 ngày thính giác đã hoạt động bình thường. Từ ngày thứ 11 - 15 (tùy theo số lượng chó con sinh ra) khe mắt bắt đầu mở. Từ ngày thứ 20 - 25 răng sữa bắt đầu mọc. Trong khoảng từ 8 - 10 ngày (kể từ khi mọc răng) răng cửa, răng nanh mọc xong. Khi chó con được 60 ngày tuổi răng sữa cơ bản mọc xong. Nếu răng mọc chậm, chứng tỏ sự nuôi dưỡng không đầy đủ và sự phát triển của chó con là kém.

 Cân trọng lượng để đánh giá tình trạng phát triển và sức khỏe của chó con.
Chó xù Nhật Bản nuôi ở Việt Nam bình quân trọng lượng khi mới sinh dao động trong khoảng
0,1 - 0,5 kg. Trong 10 ngày đầu mỗi ngày cân một lần, từ 30 ngày trở đi cách một ngày cân một lần. Sau đó cách 5 ngày cân một lần. Kết quả mỗi lần cân đều ghi cẩn thận vào sổ đăng ký. Căn cứ vào bảng ghi ta đánh giá tình trạng phát triển của chó con, và dựa vào qui luật sau đây để đánh giá.

Nếu nuôi dưỡng đầy đủ, khi 30 ngày tuổi một số chó có thể nặng 1 - 1,2 kg. Theo một số chuyên gia nuôi chó cho biết tốc độ chó con tăng nhanh 60 - 180 ngày tuổi, độ dài tứ chi tăng từ 2,5 - 3 lần, lúc này xương ống ngừng phát triển, lồng ngực vẫn phát triển, độ dài đốt các ngón, chiều cao vây tạm ổn định. 


Tốc độ lớn mãnh liệt nhất của chó diễn ra trước khi nó được 6 tháng tuổi. Chiều cao vây tăng từ 87,5 - 108% khi chó được 120 ngày tuổi, và từ 120 - 180 ngày tuổi chỉ tăng thêm 3,5 - 7%, từ 180 - 210 ngày tuổi tăng 7,1 - 8,3%, từ 6 - 11 - 12 tháng tuổi, chó lớn lên rất ít, hầu như ngừng lại, tuy vậy mãi cho tới khi chó được 2,5 tuổi mới ngừng lớn. 

Từ đặc điểm sinh lý này của chó, giúp ta nuôi dưỡng chó một cách hợp lý. Việc chăm sóc nuôi dưỡng chó con từ khi mới sinh cho đến khi chó được 210 ngày tuổi có tính chất quyết định trong nghề nuôi chó.

Cũng trong thời kỳ này việc cho ăn thức ăn bổ sung giàu chất khoáng và vitamin cực kỳ cần thiết. Các chất khoáng, vitamin có nhiều trong thịt nạc, trứng, sữa, gan. Trong 100 gam sữa tươi có 120 mg canxi, 95 mg phốt pho, 14 mg magiê, 0,1 mg sắt và 34 mg lưu huỳnh. Hàm lượng sắt trong sữa là thấp nhất. Trong khi đó đậu tương có 11,0 mg sắt, gan lợn 12,0 mg, gan bò 10,0 mg vì vậy vấn đề bổ sung sắt cho chó con bằng con đường dinh dưỡng rất cần thiết cho quá trình tạo máu. Chó con mới sinh cần phải được bú sữa đầu. Vì trong sữa đầu có các kháng thể giúp chó con chống đỡ với một số bệnh truyền nhiễm. Hàm lượng kháng thể này giảm dần, đến khi 2 tháng tuổi hầu như không còn. Vì vậy kể từ lúc này người ta đã phải gây miễn dịch chủ động cho chó

Nguồn: PTS. PHẠM SĨ LĂNG – PTS. PHAN ĐỊCH LÂN - Thượng tá Công an BÙI VĂN ĐOAN 

Cách Nuôi Cún Con Khi Mất Mẹ

Nuôi dưỡng và cho ăn
Với chó mồ côi, cung cấp những chất dinh dưỡng cần thiết luôn là vấn đề quan trọng. Chó con phải được cho ăn bằng bình bú hoặc bằng ống. Bú bình là phương pháp cho ăn được ưa chuộng. Cho ăn bằng ống là phương pháp chỉ dành cho những ai đã thành thạo, vì ống có thể sẽ vô tình xuyên qua phổi và gây tắc nghẽn khi cho chó con ăn. Cho chó ăn khi nó nằm ngửa chứ không nằm sấp, như đối với trẻ nhỏ.

Những loại sữa thương mại dành riêng cho chó con thì có sẵn và được cân bằng dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cần thiết của những chú chó mồ côi. Tuy nhiên ta có thể sử dụng thức ăn chế biến tại nhà. Chúng không hoàn toàn cân bằng dinh dưỡng, nhưng cũng đủ cho chó con trong một vài ngày trước khi ta có được sữa thương mại bán sẵn.



Các chất thay thế sữa mẹ cho chó con trong trường hợp khẩn cấp:
+ 1 tách sữa (sữa bò hoặc sữa dê).
+ 1 nhúm muối ăn.
+ 3 lòng đỏ trứng – không lấy lòng trắng.
+ 1 muỗng canh dầu bắp.
+ 1 muỗng cà phê vitamin lỏng.

Cần lưu ý:

+ Không nên cho lòng trắng trứng sống vì 1 loại enzym trong lòng trắng trứng có thể gây ra tình trạng thiếu chất biotin. Enziym này bị tiêu hủy khi nấu chín thức ăn.

Cho dù dùng công thức thức ăn thương mại hay công thức chế biến tại nhà thì cũng chỉ nên pha một lượng cho ăn đủ 1 lần trong 1 ngày và giữ trong tủ lạnh. Rửa sạch và để khô bình và đầu vú hoặc ống giữa những lần cho ăn. Hâm nóng sữa trong nồi nước ở nhiệt độ 37 – 38 0C trước khi cho ăn.

Giữ chúng ở tư thế thẳng hay đặt chúng trên vai bạn và vỗ nhẹ vào lưng chúng trong và sau khi ăn. Việc cho ăn bằng bình bú được thực hiện hết sức cẩn thận để tránh xảy ra tình trạng viêm phổi hay sặc trong quá trình hấp thu. Việc cho bú bình góp phần giúp cho quá trình tạo phản xạ ăn của chúng.

Trong vòng 48 – 72 tiếng đầu tiên, cho ăn 2 giờ một lần. Trong thời gian còn lại của tuần đầu, cho ăn 3 giờ 1 lần vào ban ngày với 2 lần cho ăn cách nhau 4 giờ vào ban đêm. Tuần thứ 2, những lần cho ăn cách nhau 4 giờ trong ngày với 1 lần ăn cách nhau 6 giờ vào ban đêm. Vào tuần thứ 3, chúng nên được bắt đầu cho ăn cháo bột dành cho chó 3 lần trong ngày và vẫn tiếp tục cho bú bình.

Làm cháo bột bằng cách cho 2 tách thức ăn khô chất lượng cao dành cho chó con trộn với 250 gr chất thay thế sữa trên và sau đó cho thêm nước nóng. Hỗn hợp này cần được trộn đều cho đến khi có độ sệt như bột ngũ cốc cho trẻ (Hỗn hợp này đủ cho 6 – 8 chó con với kích thước trung bình).

Vào tuần thứ 4, cháo bột có thể được cho ăn 4 – 5 lần một ngày và có thể giảm dần việc bú bình. Việc cho ăn vào giữa đêm có thể giảm và cũng có thể ngưng hẳn. Chúng có thể hoàn toàn dùng thức ăn lỏng trong 6 tuần tuổi.

Chia nhu cầu calori hàng ngày thành 6 – 12 lần ăn phù hợp với tuổi của chúng. Một chú chó con vào khoảng 8 ounce (1/2 pound – 230 gr) kỳ vọng tiêu thụ khoảng 30 ml (1 ounce – 28 gr) sữa pha trong vòng 24 tiếng. Hầu hết các loại sữa pha chế đều chứa khoảng 60 calori cho 1 ounce (khoảng 28 gr). Điều này có nghĩa là một chú chó con nặng 8 ounce sẽ tiêu thụ khoảng 30 calori trong vòng 24 giờ. Đây chỉ là những hướng dẫn và cho ăn nhiều lần với liều lượng ít mỗi lần ăn thì tốt hơn cho ăn một lượng lớn với chỉ 1 lần ăn. Nếu chó vẫn không tăng cân, chúng cần thêm thức ăn. Nếu chúng bị tiêu chảy, có thể là chúng bị cho ăn quá mức.

Lượng calori hấp thu:
- Tuần 1: 60-69 Calori/pound/ngày
- Tuần 2: 70-79 Calori/pound/ngày
- Tuần 3: 80-89 Calori/pound/ngày
- Tuần 4: 90-100 Calori/pound/ngày

Cân mỗi chú chó cùng một lúc ít nhất là 1 lần/ ngày trong 10 ngày đầu tiên. Sau đó là 3 – 4 lần/ tuần cho 10 ngày tiếp theo. Không tăng cân thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ở những chú chó con.

Kích thích vệ sinh 
Một chú chó mới sinh không thể tự đi vệ sinh hay vận động đường ruột. Chúng thiếu khả năng kiểm soát cơ thể cần thiết cho những chức năng này. Một chú chó con cần được kích thích để đi vệ sinh và tống chất thải ra khỏi cơ thể. Việc này thường được chó mẹ thực hiện. Chúng thường vuốt hay liếm vào vùng hậu môn của chó con để kích thích chúng đi vệ sinh.

Những chú chó con không có mẹ phải được kích thích bằng tay của chủ nó để có thể đi vệ sinh. Chúng phải được kích thích sau mỗi lần cho ăn. May mắn là công việc này khá dễ dàng. Một quả banh bằng cotton hay một mẫu khăn lông mềm dùng rất tốt. Thấm nước chúng và nhẹ nhàng chà xát vào vùng hậu môn và vùng sinh dục. Trong vòng vài phút, chó con sẽ đi vệ sinh. Một số con thực hiện việc này tốt hơn trước khi ăn trong khi một số con khác lại làm tốt hơn sau khi ăn.

Vì thế cần kích thích chó con trước lẫn sau khi ăn để đảm bảo sức khỏe cho chúng. Cần ghi lại mỗi lần chúng đi vệ sinh. Chó con sẽ cần được kích thích theo cách này cho tới khi bàng quang và cơ ruột của chúng mạnh hơn, thường là sau 21 ngày tuổi. Hầu hết chó con sẽ tự bài tiết được sau 3 tuần tuổi.

Quan sát nước tiểu và phân để nhận ra những dấu hiệu của sức khỏe không tốt. Nước tiểu phải có màu vàng nhạt hay sạch. Nếu nó có màu vàng sậm hay cam, nghĩa là chúng không được cho ăn đầy đủ. Không nên cho ăn nhiều một lần, mà nên cho ăn nhiều lần. Phân phải có màu nâu từ nhạt tới sậm và hình thành từng phần. Phân xanh có nghĩa là bị nhiễm độc và phân quá cứng nghĩa là không đủ lượng thức ăn.

Bạn lưu ý rằng, nếu phân cứng, nên cho ăn nhiều lần tốt hơn là tăng lượng thức ăn cho mỗi lần ăn. Có thể cho chó ăn nhiều, nhưng không quá nhiều lần. Quá nhiều thức ăn sẽ gây phồng, khí độc, nôn mửa và đôi khi gây ra sự hút khí vào phổi.

Nhiệt độ và độ ẩm 
Để giữ sức khỏe, chó con cần được giữ ở một nhiệt độ thích hợp. Chó con không thể duy trì nhiệt độ cơ thể cũng như không thể run để tạo ra nhiệt. Cung cấp những nguồn nhiệt nhân tạo như lò ấp, đèn nhiệt, túi nước nóng hay túi nhiệt điện sẽ giúp chó con duy trì nhiệt độ cơ thể thích hợp. Hãy chú ý đến những nguồn nhiệt, việc không để những nguồn nhiệt trở nên quá nóng hay làm bỏng chó con là rất quan trọng. Để nhiệt kế gần chó con và kiểm tra nhiệt độ xung quanh.

Một bóng đèn 25W treo trên đáy của một chiếc hộp nhỏ sẽ cung cấp đủ nhiệt. Đặt nhiệt kế dưới đèn để kiểm tra nhiệt độ. Những túi nhiệt cần được kiểm tra cẩn thận trước khi dùng, vì những chú chó con còn quá yếu không thể di chuyển ra xa khỏi những túi nhiệt và có thể bị bỏng. Nếu phải dùng túi nhiệt, hãy bao chúng lại bằng một cái khăn lông dày hoặc bằng vải da cừu để bảo vể chúng khỏi bỏng.

Trong tuần đầu, nhiệt độ không khí cần được duy trì ở mức 32 – 35 oC và độ ẩm khoảng 55 – 56%. Giai đoạn đầu tuần thứ 2, dần dần giảm nhiệt độ xuống còn khoảng 29oC. Trong tuần thứ 3 là 27oC. Trong tuần thứ 4 là 24oC. Sau 5 tuần, giảm nhiệt độ xuống còn 21oC hay nhiệt độ trung bình trong phòng. Dùng những giác quan thông thường. Nếu những chú chó con nằm chồng lên nhau suốt ngày, chúng đang lạnh. Nếu chúng nằm trườn cách xa nhau, chúng đang nóng. Nếu chúng nằm cạnh nhau thì nhiệt độ là bình thường.

Những chú chó con bị giảm thân nhiệt (nhiệt độ trong cơ thể thấp) nên được sưởi ấm từ 2 – 3 giờ để đạt nhiệt độ cơ thể bình thường khoảng 36oC. Trước khi được cho ăn, nhiệt độ cơ thể của chúng phải đạt ở mức bình thường.

Giữ độ ẩm ở mức bình thường đối với người. Trong chiếc hộp làm cho chó con, phủ một chiếc khăn đã thấm nước sẽ giúp tăng hơi ẩm. Không bao giờ nuôi chó con trong sự ẩm ướt hay ở những tầng hầm ẩm thấp. Những nơi này thường ẩm thấp và đọng nước nên thường lạnh và gây ra nấm mốc cũng như nhiễm khuẩn đường hô hấp. Kiểm soát nhiệt độ quan trọng hơn là độ ẩm.

Chó con nên được đặt trên những bề mặt nhẵn và dễ di chuyển như mền được trải ra và giữ cố định vào mỗi mặt của chiếc hộp nuôi.

Phòng bệnh
 
Rất nhiều chó con không có mẹ luôn có nguy cơ cao bị các bệnh nhiễm khuẩn như bệnh sốt ho và bệnh parvovirus (gây viêm dạ dày, nôn mửa, đi tiêu ra máu…). Điều này đặc biệt đúng với những chú chó con mồ côi không nhận được sữa non từ mẹ chúng.

Sữa non chỉ có trong vòng 24 giờ sau khi sinh rất giàu những chất kháng thể chống lại các loại bệnh. Sữa non chứa những chất kháng thể khi được chó con hấp thu sẽ tạo ra sự miễn dịch chống lại rất nhiều bệnh. Những con không được bú mẹ sẽ không hấp thụ được sữa non và hệ miễn dịch sẽ không tốt. Vì thiếu sự miễn dịch, việc tiêm phòng đầy đủ cho chó con là cực kỳ quan trọng. Một số bác sỹ thú y khuyên rằng nên tiêm phòng sớm cho chó con.

Việc tẩy giun cho chó con thường xuyên được khuyến cáo bởi Hiệp hội những nhà nghiên cứu ký sinh trên thú nuôi của Mỹ (AAVP), Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh (CDC), Hội đồng nghiên cứu ký sinh trùng trên động vật (CAPC) như sau: điều trị lần đầu khi 2 tuần tuổi; lặp lại khi 4, 6, và 8 tuần tuổi; sau đó hàng tháng dùng thuốc phòng giun chỉ để kiểm soát những vật ký sinh đường ruột. Sử dụng thuốc chống giun kết hợp chống ký sinh đường ruột sẽ giảm nguy cơ bị bệnh về ký sinh trùng. Nếu không sử dụng thuốc sẽ bị nhiễm giun vào giai đoạn 2, 4, 6 và 8 tuần tuổi.

Nuôi dưỡng và hòa nhập cộng đồng 
 Chó con cần được khuyến khích về cả thể chất lẫn tinh thần. Nếu chúng có bạn cùng lứa, chúng sẽ kích thích nhau phát triển. Ôm ấp chó con khi bạn đánh thức chúng, khi ăn và khoảng thời gian sau khi ăn. Chúng cần được như thế để có thể lớn nhanh.

Cho chó con có sự tương tác lẫn nhau với những thành viên trong gia đình là rất quan trọng khi chúng được 5 – 6 tuần tuổi. Nên nhớ rằng, nó vẫn còn là một đứa trẻ và phải được chăm sóc cẩn thận, nhưng bạn cũng nên tập cho nó làm quen với tiếng ồn, chải lông, người mới và những con thú khác. Hòa nhập sớm và việc giúp chó con cảm thấy an toàn trong môi trường riêng của chúng sẽ giúp ngăn ngừa nhiều vấn đề xảy ra trong tương lai.
Bài viết của Tiến sĩ Foster và Smith

Bệnh Herpesvirus Ở Chó. (Canine herpesvirus)

Là một bệnh lây lan mạnh trong đàn chó, do Canine herpesvirus (CHV) thuộc họ virus Herpesviridae gây xuất huyết, tử vong cao cho chó con dưới 2-3 tuần tuổi. Virus CHV lần đầu tiên được phát hiện vào giữa những năm 1960 thế kỷ trước. Cũng là một tác nhân kết hợp gây bệnh Kennel Cough ( Ho ở cũi chó ). 

Bệnh Herpesvirus ở chó non: 
Thời gian ủ bệnh từ 6 đến 10 ngày. Chó con bị lây nhiễm virus ngay trong tử cung của mẹ do chó mẹ mang virus khi giao phối.

Virus xâm nhập vào các tế bào bề mặt của tuyến nhầy, Amidan, họng rồi lan tỏa vào các bộ phân còn lại của cơ thể. Chó con tụt thấp thân nhiệt, kêu la, yếu xỉu, chảy dịch mũi, phân lỏng vàng xanh, mất phản xạ bú mẹ. Viêm và xuất huyết các mao mạch, phủ tạng. Đau mắt, kéo đục thủy tinh thể cùi nhãn.Chó con chết nhanh sau 1-2 ngày phát bệnh. 



Tỷ lệ tử vong cao tới 80% ở chó dưới 1 tuần tuổi. Chó từ 3-5 tuần tuổi sức kháng bệnh cao hơn do khả năng tự điều hòa thân nhiệt nhưng vẫn có thể chết do các triệu chứng thần kinh, liệt vận động hoặc mù mắt.
Viêm và xuất huyết các mao mạch, phủ tạng.
CHV gây chết đột tử chó sơ sinh.
Bệnh Herpesvirus ở chó trưởng thành:
Thường kết hợp cùng gây bệnh Kennel Cough ( Ho ở cũi chó ). Virus lây lan qua giao phối, nhân giống nên gây sảy thai, đẻ non , viêm đường sinh dục, dương vật...

CHV tấn công vào hệ thần kinh, gan, phổi ( hô hấp trên ) của chó, CHV lây lan qua đường sinh dục khi nhân giống.
Dương vật chó nhiễm bệnh Herpes Virus.

Có thể phân lập virus, chẩn đoán bệnh qua các triệu chứng lâm sàng mô tả trên. Kết quả điều trị rất thấp. Vaccine phòng bệnh này hiệu quả rất thấp. Bệnh không lây sang người. 

Phòng bệnh: 
Phòng bệnh chủ yếu bằng giám sát nhân giống, kiểm dịch vận chuyển, đặc biệt các chó giống quý xuất, nhập khẩu.

Ở Châu Âu, từ năm 2003 đã dùng vaccine Eurican Herpes 205 tiêm 2 lần cho chó mẹ : Mũi 1 khi đang hành kinh hoặc mới mang thai, Mũi 2 : 1 hoặc 2 tuần trước khi sinh. Tác dụng phòng bệnh có khả quan.

Vệ sinh môi trường sạch sẽ. Ánh nắng và Các loại thuốc sát trùng thông dụng đều dễ dàng diệt virus ở môi trường.

Bệnh Leptospirosis Trên Chó

1. Đặc điểm
Bệnh Lepto là bệnh truyền nhiễm chung giữa người, gia súc. Trong thể cấp tính chó bệnh thuờng có biểu hiện viêm dạ dày ruột xuất huyết thường ói ra máu và phân sậm màu hoặc gây hoàng đản, nước tiểu vàng sậm tỉ lệ chết có thể đến 60-90%.
Bệnh phát hiện vào năm 1850 trên chó ở Đức. Việt Nam tỷ lệ nhiễm chó tương đối khá cao 80 % cơ sở nuôi chó nghiệp vụ và 20% chó ở hộ dân. 

2. Căn bệnh
  -    Virus thuộc 2 họ chính: Spirochaetaceae trong đó hai giống Borrelia và Trepponema gây bệnh.


  -    Leptospiraceae tiêu biểu là giống Leptospira.
  -    Trong giống Leptospira người ta thường phân thành 2 loại
  -    Leptospira interrogans gây bệnh và Leptospira biflexa không gây bệnh.
  -    Ngày nay người ta biết khoảng 200 serovars Leptospira gây bệnh.
  -    Sức đề kháng: Đề kháng yếu đối với nhiệt độ. Nếu đun 50-550C /1giờ thì lepto bị diệt. Khi ra ngoài gặp nước trung tính và chổ rậm (25 0C) mát, Leptospira sống lâu, nhưng nếu pH nhỏ hơn 6,6 thì khó sống, virus sống lâu trong nước tiểu chó.


 3. Dịch tễ
  -    Tuổi mắc bệnh: Mọi lứa tuổi đều mắc bệnh nhưng bệnh thường gặp trên chó đực.
  -   Chất chứa căn bệnh: Máu thường chỉ chứa Leptospira trong khoảng hơn 1 tuần sau khi nhiễm.
  -    Dịch não tủy: có thể chứa Leptospira trong khoảng 2 tuần.
  -   Đường xâm nhập : Leptospira có thể xâm nhiễm qua niêm mạc đường tiêu hóa, mắt hay qua vết thương ở da. 


4. Cơ chế sinh bệnh
 Sau khi xâm nhiễm Leptospira trong máu, nhân lên mạnh mẽ và gây bại huyết sau đó chúng đến định vị ở những cơ quan ưa thích, nhất là gan, thận. Chính sự định vị ở 2 cơ quan này giải thích cho những biểu hiện bệnh học khác nhau. Leptospira trong giai đoạn bại huyết có thể đến những cơ quan sinh dục gây xáo trộn sinh sản. 

5. Triệu chứng 
Thời gian nung bệnh 5-15 ngày.

 5.1. Dạng cấp tính
  Bại huyết phát triển nhanh sau vài giờ nhiễm, sốt cao 40-410C và suy nhược nặng. Có thể chia làm 2 thể:
-    Thể thương hàn: Vật bệnh có biểu hiện xuất huyết trầm trọng viêm kết mạc mắt với nhũng điểm xuất huyết ở da và niêm mạc, ói ra máu và phân sậm màu có máu, thú bị mất nước rất nhanh và chết trong 24 ngày cùng với giảm thấp thân nhiệt, thường thấp hơn bình thường.
-    Thể hoàng đản : Chó bệnh có biểu hiện viêm kết mạc mắt, hoàng đản, vàng da khó thở tăng dần cùng với kém ăn, ói mửa, nếu không chữa trị trong giai đoạn cuối chó có sự tăng cao nhiệt độ khó thở, hơi thở hôi. Tiêu chảy đôi khi xuất huyết và những biểu hiện viêm não trước khi hắt hơi, thú chết trong khoảng 5-8 ngày mắc bệnh.
  


Hình 1. Chó bị tiêu chảy ra máu 
6.2. Thể bán cấp tính và mãn tính.
  -    Thể này tương ứng với sự phát triển hội chứng sinh urea huyết hậu quả của viêm thận mà một trong những biểu hiện là chứng tiểu nhiều, chứng khát nước rất nhiều cùng với ói mửa và tiêu chảy. Sau một thời gian hôn mê do urea huyết chó sẽ chết.
  -    Thể thở khó có mùi urea ở miệng và xáo trộn hô hấp –viêm màng móng mắt, viêm cơ.


7. Bệnh tích
  7.1. Thể cấp tính
  -    Thể thương hàn:
  + Viêm dạ dày ruột xuất huyết.
  + Xuất huyết da và các niêm mạc.
  + Có thể gặp gan sưng, hạch bạch huyết xuất huyết
  -    Thể hoàng đản:
  + Da vàng ở bụng, gang bàn chân, lỡ tai.
  + Niêm mạc vàng.
  + Bàng quang chứa nhiều nước tiểu vàng sậm và có thể xuất huyết. 

7.2. Thể bán, mãn tính. 
-    Viêm thận kẻ hay viêm thận mãn tính.
-    Vết lở ở miệng và lưỡi có thể gặp trên chó có urea trong máu.


Hình 2. Viêm thận mãn tính (a) Thận chó binh thường: (b) thận chó bệnh


  

                                                           Hình 3. Vết lở ở miệng và lưỡi
8. Chẩn đoán: 
 Dựa vào việc nuôi cấy phân lập Leptospira và phương pháp huyết thanh học ta có thể chẩn đoán chắc chắn hơn. 

9. Chẩn đoán phân biệt
  -    Trong trường hợp hoàng đản cần chẩn đoán phân biệt với trường hợp trúng độc tố nấm mốc (Aflatoxin) trúng độc chất hoặc do nhiễm vi trùng gây dung huyết mạnh.
  -    Trong trường hợp xáo trộn tiêu hóa ói mửa và phân có máu cần phân biệt với bệnh Carré, Parvo.
  -    Bệnh Carré: Sốt cao, kèm theo triệu chứng viêm phổi tiêu chảy ra máu nhưng mức độ tiêu chảy ít hơn. Thời gian mắc bệnh kéo dài hơn. Vào giai đoạn cuối xuất hiện triệu chứng nổi mụn mủ ở vùng da mỏng, triệu chứng thần kinh xuất hiện.
  -    Bệnh Parvo: Tiêu chảy ói mửa dữ dội, ít khi kèm theo triệu chứng hô hấp.

10. Điều trị 
Dùng kháng sinh chống phụ nhiễm
Các liệu pháp hổ trợ: 
  -    Cấp nước, chất điện giải, tăng cường sức đề kháng: Dùng dung dịch Lactated Ringer 20-500 ml/ngày, tùy theo mức độ mất nước và thể trạng. Truyền thêm glucose 5% để cung năng lượng. 


11. Phòng bệnh
  -    Cách ly chó khỏe với chó bệnh.
  -    Không cho chó khỏe tiếp xúc với phân của chó bệnh.
  -    Vệ sinh sát trùng sạch sẽ nơi ở của chó để tránh lây lan mầm bệnh.
  -    Phòng bệnh bằng vaccin.

Dr. Hải

Bệnh Ho Cũi Chó Và Cách Phòng Trị

Bệnh gây ra nhiều nhất ở chó dưới 6 tháng tuổi, chó nhập từ nước ngoài, chó chuyển vùng vào đợt đợt rét lạnh, ẩm ướt hoặc chó bị nhiều stress bất lợi khác... đều có khả năng mang căn bệnh " Viêm khí quản- phế quản truyền nhiễm" - Infectious Trachebronchitis- hay còn gọi là "Bệnh ho khan" "ho như tiếng ngỗng kêu", một số tài liệu dịch sang Tiếng Việt là "Bệnh Ho ở cũi chó" ( Tiếng Anh: Kennel Cough).

Nguyên nhân gây bệnh: 
Do Virus Canine parainfluenza kết hợp với một số vi khuẩn khác ở đường hô hấp như : Bordetella bronchiseptica... Mycoplasma. 

Triệu chứng và phương thức lây lan: 
Bệnh lây lan nhanh làm chết nhiều chó với các triệu chứng ho khạc kéo dài từ 7- 21 ngày do viêm đường hô hấp trên, mặc dù lúc đầu vẫn ăn khỏe, nhanh nhẹn, không sốt, khó có thể biết chó đã mang bệnh. Quan sát kỹ: mắt không trong sáng, có rử ghèn, gương mũi luôn luôn khô, ráp và chảy dịch xanh, hay liếm mũi rồi nuốt dịch, hắt hơi khi có nhiều dịch chảy ra...bệnh chuyển sang mạn tính, chó gầy sút nhanh do kế phát các bệnh vi khuẩn, virus khác: Parvovirus, Carre... tiêu chảy, phân nát có nhày máu, hôi tanh , nôn ra dịch nhớt vàng từ dạ dày lẫn nhớt, rối loạn chức năng gan, thận và chết đột ngột do khó thở, trụy hô hấp, mất nước và trụy tim mạch.

Bệnh thường diễn biến kéo dài tới nhiều tuần, thậm chí tới 2 tháng. Những con được chữa trị theo triệu chứng, tưởng chừng đã khỏi, sau vài tuần bị lại, tỷ lệ tử vong rất cao. Giai đoạn cuối của bệnh khi sức đề kháng giảm sút, chó chuyển sang: tiêu chảy có máu, loạng choạng, run rẩy, xuất hiện từng cơn co giật động kinh.

Bệnh lây thông qua môi trường, dụng cụ chăn nuôi, chất thải ô nhiễm hoặc tiếp xúc trực tiếp giữa chó mang trùng và chó khỏe, đặc biệt các nơi tập trung nhiều chó nguồn gốc khác nhau hoặc không rõ nguồn gốc. Các giống chó ngoại như: Saint Bernard, Tibetan Mastiff ( Thần khuyển Tây tạng ), Bulldog, Phốc sóc, Husky, Dachshund, Pug... sức đề kháng kém hơn chó địa phương tỷ lệ mắc bệnh và tử vong khá cao. Chó nuôi tại miền Bắc khí hậu lạnh và ẩm ướt mắc bệnh trầm trọng và khó chữa hơn chó nuôi ở miền Nam.

Chẩn đoán bệnh "Viêm khí quản- phế quản truyền nhiễm":

Chủ yếu căn cứ triệu chứng lâm sàng và Dịch tễ học ( phương thức lây lan). Chẩn đoán xét nghiệm phân lập virus , vi khuẩn trong phòng thí nghiệm kết quả không cao và không kịp thời. Chụp X-quang phổi chỉ rõ khi đã mắc bệnh kéo dài viêm phổi kế phát do vi khuẩn.



Phòng bệnh : 
Vaccine phòng bệnh này có trong liều vaccine đa giá các loại: 3-4-5-6-7 bệnh đang lưu hành trên thị trường, nhưng hiệu quả miễn dịch thấp, việc tiêm vaccine đúng quy trình và đủ lần tiêm cho chó dưới 6 tháng tuổi cực kỳ quan trọng để ngừa bệnh lây lan. Các Bác sỹ thú y khuyến cáo: nên tiêm vaccine phòng bệnh parainfluenza 6 tháng 1 lần ngay cả với chó trưởng thành.

Biện pháp nuôi cách ly ít nhất 2 tuần những con chó mới về chưa có an toàn dịch, tẩy trùng và để trống khu nuôi có dịch một thời gian là rất cần thiết. Giữ ấm, khô ráo, chế độ ăn hợp lý, đủ chất dinh dưỡng có giá trị tăng sức đề kháng, tăng hiệu quả miễn dịch.

Điều trị: 

Không có thuốc đặc hiệu. Phần lớn điều trị theo triệu chứng : Truyền bù dịch và điện giải, năng lượng, kháng sinh chống các bệnh kế phát, trợ sức, hỗ trợ hô hấp và chăm sóc đặc biệt.

Bệnh Giảm Bạch Cầu- Viêm Ruột Truyền Nhiễm Của Mèo

Các tên gọi khác: Bệnh Ca-rê của mèo ( feline “distemper,”), Bệnh Rối loạn vận động feline ataxia.
Là một bênh truyền nhiễm nguy hiểm , lây lan nhanh gây chết nhiều mèo, do virus FPV có sức đề kháng cao với các chất sát trùng, chloroform, acid và chịu được độ nóng tới 56′C trong 30 phút, virus sống trong nhân tế bào của vật chủ, sản sinh nhanh và hủy hoại cơ thể mèo.
Feline Panleukopenia Virus

 Feline panleukopenia Virus ( FPV) qua đường miệng, chỉ trong vòng 24 giờ virus xuất hiện trong máu, xâm nhập vào các tế bào lympho, tấn công hàng rào miễn dịch của cơ thể, đặc biệt làm suy giảm bạch cầu, phá hủy niêm mạc ruột.
Mèo gày yếu, suy sụp.
Triệu chứng:
Tuy không có liên quan gì tới “bệnh Ca-rê” của chó, nhưng Bệnh Viêm ruột truyền nhiễm Feline panleukopenia Virus ( FPV) có các triệu chứng tương tự: sốt, bỏ ăn và suy sụp đột ngột, nôn nhiều lần, đau vùng bụng, tiêu chảy cấp và mất nước rối loạn điện giải trầm trọng, tiếng kêu khàn, mất giọng, yếu ớt, suy giảm bạch cầu (leukopenia) dẫn đến tử vong.
Các triệu chứng thần kinh: đi loạng choạng, mất thăng bằng, run rẩy lắc lư, thậm chí co giật động kinh. Mắt kèm nhèm, trũng, sụp mí mắt, lờ đờ, mũi miệng thâm đen, chảy dãi nhớt. Hơi thở và mùi phân, dãi bốc mùi hôi rất khó chịu.
Mèo mẹ mang thai bị sảy thai hoặc đẻ non, mèo con có thể bị nhiễm virus ngay từ 2 – 3 tuần tuổi chết hàng loạt trong vài ngày. Mèo ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh, nhưng tỷ lệ tử vong rất cao: từ 25- 75% mèo chết tại các ổ dịch, gần 100% với mèo con.
Mèo hoang, mèo không rõ nguồn gốc là nguy cơ lây lan bệnh dịch. 
 
Thu gom mèo buôn bán cho “tiểu hổ”, các nơi giết mổ, chất thải, phủ tạng mèo cũng là nguyên nhân làm lây lan dịch bệnh.
Tất cả các loài vật thuộc họ Mèo (Felidae) đều mắc bệnh và mang truyền virus làm lây lan , bùng phát các ổ dịch lớn. Mèo nuôi thả rông, vận chuyển, buôn bán mèo không có miễn dịch tốt là nguy cơ lây lan bệnh cao.
Điều trị:
Do bị suy giảm bạch cầu nên khả năng chữa trị mèo bệnh rất khó khăn, cần có các bác sỹ thú y khám và tư vấn.
Chăm sóc chu đáo. Bổ sung nước và cân bằng điện giải, vitamin, và điều trị các nhiễm trùng kế phát hoặc các bệnh kế phát.
Phòng bệnh:
Hiện nay có vaccine đa giá ( 4 trong 1 ) có phòng bệnh Panleukopenia ( Giảm Bạch cầu ) cho Mèo hiệu quả cao và tích cực phòng bệnh này. Vaccine có hiệu lực miễn dịch tới 2- 3 năm, nhưng tốt nhất tiêm phòng hàng năm cho mèo.
Mèo con bắt đầu tiêm vaccine từ 8-9 tuần tuổi, tiêm nhắc lại ở 12-14 tuần tuổi để có miễn dịch cơ bản ( Primmary Vaccination ).
Tiêm phòng bằng vaccine- Biện pháp hữu hiệu, chủ động tạo miễn dịch cho mèo.
Kiểm dịch vận chuyển, buôn bán mèo tuân thủ Pháp lệnh Thú y để phòng chống lây lan bệnh. Mèo mới về cần có thời gian nuôi cách ly mèo khác từ 10- 15 ngày. Mèo lang thang, mèo hoang có dấu hiệu ốm bệnh cần được đưa khám Bác sỹ Thú Y trước khi quyết định mang về nhà nuôi.
Thận trọng với những mèo đã khỏi bệnh vẫn mang virus sau vài tháng, nguy cơ tiềm tàng gây các ổ dịch bùng phát cho mèo khác.

Các Kỹ Thuật Để Chăm Sóc Chó Sơ Sinh

Những thiên thần cún cưng luôn là niềm quan tâm hàng đầu vs các bạn yêu thú vật .

Không ít các trường hợp không may mắn hiện nay đã dẫn đến hoàn cảnh 1 số bé không được chăm sóc bởi mẹ - ví dụ như là mẹ phải mổ đẻ, bị bẫy trộm, mẹ ko nuôi vì cảnh giác nguy hiểm, hay mẹ chết trong lúc sinh, bị bắt đem bán...
Sau đây là một số kỹ thuật chăm sóc cún con dành cho các bạn có cún đang trong giai đoạn sơ sinh.
Kỹ thuật nuôi chó con đang bú sữa
Sau khi ra khỏi bụng mẹ, chó con bắt đầu phải chịu đựng điều kiện sống tương đối khắc nghiệt như : nhiệt độ, ôn độ, ẩm độ và điều kiện dinh dưỡng hoàn toàn mới lạ và việc bú sữa mẹ, cơ quan tiêu hóa chính thức hoạt động.
Việc nuôi dưỡng chó con tuân theo một số giai đoạn với những biện pháp kỹ thuật hết sức khoa học, nhằm hướng tới đích là : chó khỏe mạnh, phát triển tốt.
Nuôi chó con đúng khoa học là tạo cho con chó có sức chịu đựng dẻo dai, thích nghi với hoàn cảnh sống Việt Nam, chó luôn cảnh giác với người lạ, khứu giác, thính giác phải nhạy, cũng cần dạy cho chó “vâng lời”.
Muốn có đàn chó con khỏe mạnh cần chú ý đến chất lượng chó bố và chó mẹ. Khi chó mẹ mang thai và cả khi nó nuôi con đều phải được nuôi dưỡng đầy đủ, chú ý chất đạm, khoáng và vitamin.
Chó con mới sinh ra chưa thích nghi với điều kiện sống mới, nên phải quan tâm đầy đủ tới chúng như : đệm lót phải sạch, khô, đảm bảo nhiệt độ ấm thường xuyên (nếu nhiệt độ thích hợp, chó con tản đều, ngủ tốt, nếu quá lạnh chúng chụm vào nhau, quá nóng chúng phân tán nhiều hơn, tỏ ra khó chịu). Chú ý, khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường (mưa bão đột ngột).
Chó con mới sinh ra phải cho bú sữa mẹ, nhất thiết phải được bú sữa đầu (vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể giúp chó con chống đỡ bệnh tật). Khi mới sinh chó chưa có răng, lỗ khe tai đóng lại chó con chuyển động rất khó khăn, mọi hoạt động của chó con lúc này nhờ bản năng như : tìm vú mẹ và bú mút, chó mẹ cũng tạo thuận lợi cho chó con bú sữa. Nếu chó mẹ vụng về (tức là bản năng không phát triển) người chủ chó phải đưa sát mõm chó con vào đầu vú mẹ, lúc này cần theo dõi hành vi của chó mẹ và sự bú mút của chó con, nếu có gì không bình thường cần mời bác sĩ thú y.
Sau khi chó con ra đời được 1 ngày phải theo dõi chúng hoạt động có bình thường không, đồng thời kiểm tra các ngón thừa. Thường sau 3 - 4 ngày người ta phải cắt ngón thừa cho gọn. Mỗi ổ chó sinh ra thường nuôi từ 4 - 7 con tùy khả năng và sự tiết sữa của chó mẹ, từ ngày thứ 3 - 10 cần cắt phần nhọn ở hai chân trước của chó con (đề phòng chúng cào rách vú mẹ) đến ngày thứ 20 cắt lại một lần nữa.
Cần cho chó mẹ ăn đủ chất, chú ý đủ chất đạm (protit, khoáng và vitamin nhóm A, nhóm B). Trong thời kỳ đầu nuôi chó con chủ yếu bằng sữa chó mẹ, và từ ngày thứ 5 trở đi có thể cho chó con ăn thêm sữa bò.
Việc cho chó con ăn theo một khẩu phần hợp lý có ý nghĩa lớn đến sự phát triển của chó sau này. Khi mới sinh chó được bú sữa mẹ tương đối đủ (nếu được bú no đủ, chó ngủ tốt) nếu thiếu sữa chó cựa quậy đòi ăn.
Sau khi đẻ được 5 - 10 ngày cho chó con ăn thêm sữa hâm nóng, lúc đầu bú bằng vú cao su, về sau rót sữa ra đĩa và dúi mõm chó con vào đĩa có sữa để chó con tự liếm sữa cho quen dần cách “tợp” sữa. Hàng ngày cho mỗi chó con ăn thêm 100 - 200 ml sữa đến khi chó được 120 ngày tuổi.
Chó con được 15 ngày tuổi, cho ăn thêm cháo sữa, có thịt băm (khoảng 20 gam thịt nạc), mỗi ngày cho ăn 1 - 2 bữa.
Từ tuần tuổi thứ ba (21 ngày tuổi) cho chó con ăn thêm cháo gạo ninh nhừ, trộn thịt nạc băm, mỗi ngày cho chó ăn 2 bữa. Từ 30 ngày tuổi trở đi, lượng thịt tăng lên từ 20 - 50 gam cho mỗi ngày.
Cũng từ ngày tuổi thứ 30 trở đi cho ăn thêm khoai tây, rau xanh, lượng rau và khoai tây tăng dần, tăng lượng vitamin.
*  Các loại vitamin A và D thường được quan tâm hơn cả, và được bổ sung bằng dầu gan cá thu. - Các chất khoáng đa lượng và vi lượng rất cần thiết cho quá trình tạo khung xương và tham gia nhiều quá trình trao đổi chất.
*  Chó con dưới 120 ngày tuổi, mỗi ngày cho ăn 5 bữa, từ 4 - 6 tháng tuổi, mỗi ngày cho ăn 4 bữa, từ 6 tháng trở lên mỗi ngày cho ăn 3 bữa hoặc 2 bữa, lượng thức ăn được tăng dần theo mức độ phát triển của cơ thể chó con. Cần quan tâm đến độ choán dạ dày chó con.
Chó con từ 30 - 60 ngày tuổi mỗi bữa cho ăn từ 100 - 200 ml thức ăn, từ 2 - 4 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn từ 0,2 - 0,3 lít. Từ 6 - 11 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn 0,4 lít hỗn hợp thức ăn (tùy chó lớn hay bé mà điều chỉnh dung tích thức ăn).
Theo dõi tình hình phát triển bình thường của chó con theo một trình tự như sau : chó con sinh ra được 5 - 8 ngày, khe tai mở, thính giác bắt đầu phát triển, đến 11 - 16 ngày thính giác đã hoạt động bình thường. Từ ngày thứ 11 - 15 (tùy theo số lượng chó con sinh ra) khe mắt bắt đầu mở. Từ ngày thứ 20 - 25 răng sữa bắt đầu mọc. Trong khoảng từ 8 - 10 ngày (kể từ khi mọc răng) răng cửa, răng nanh mọc xong. Khi chó con được 60 ngày tuổi răng sữa cơ bản mọc xong. Nếu răng mọc chậm, chứng tỏ sự nuôi dưỡng không đầy đủ và sự phát triển của chó con là kém.
Cân trọng lượng để đánh giá tình trạng phát triển và sức khỏe của chó con.
Chó xù Nhật Bản nuôi ở Việt Nam bình quân trọng lượng khi mới sinh dao động trong khoảng 0,1 - 0,5 kg. Trong 10 ngày đầu mỗi ngày cân một lần, từ 30 ngày trở đi cách một ngày cân một lần. Sau đó cách 5 ngày cân một lần. Kết quả mỗi lần cân đều ghi cẩn thận vào sổ đăng ký. Căn cứ vào bảng ghi ta đánh giá tình trạng phát triển của chó con, và dựa vào qui luật sau đây để đánh giá.
Nếu nuôi dưỡng đầy đủ, khi 30 ngày tuổi một số chó có thể nặng 1 - 1,2 kg.
Theo một số chuyên gia nuôi chó cho biết tốc độ chó con tăng nhanh 60 - 180 ngày tuổi, độ dài tứ chi tăng từ 2,5 - 3 lần, lúc này xương ống ngừng phát triển, lồng ngực vẫn phát triển, độ dài đốt các ngón, chiều cao vây tạm ổn định.
Mức tăng trọng của chó so với sơ sinh :
  • 8 - 9 ngày tuổi : Tăng gấp 2 lần
  • 18 ngày : Tăng 3,5 - 4 lần
  • 25 ngày : Tăng 5 - 6 lần
  • 30 ngày : Tăng 6 -7 lần
  • 45 ngày : Tăng 10 - 11 lần
Tốc độ lớn mãnh liệt nhất của chó diễn ra trước khi nó được 6 tháng tuổi. Chiều cao vây tăng từ 87,5 - 108% khi chó được 120 ngày tuổi, và từ 120 - 180 ngày tuổi chỉ tăng thêm 3,5 - 7%, từ 180 - 210 ngày tuổi tăng 7,1 - 8,3%, từ 6 - 11 - 12 tháng tuổi, chó lớn lên rất ít, hầu như ngừng lại, tuy vậy mãi cho tới khi chó được 2,5 tuổi mới ngừng lớn.
Từ đặc điểm sinh lý này của chó, giúp ta nuôi dưỡng chó một cách hợp lý. Việc chăm sóc nuôi dưỡng chó con từ khi mới sinh cho đến khi chó được 210 ngày tuổi có tính chất quyết định trong nghề nuôi chó.
Cũng trong thời kỳ này việc cho ăn thức ăn bổ sung giàu chất khoáng và vitamin cực kỳ cần thiết. Các chất khoáng, vitamin có nhiều trong thịt nạc, trứng, sữa, gan. Trong 100 gam sữa tươi có 120 mg canxi, 95 mg phốt pho, 14 mg magiê, 0,1 mg sắt và 34 mg lưu huỳnh. Hàm lượng sắt trong sữa là thấp nhất. Trong khi đó đậu tương có 11,0 mg sắt, gan lợn 12,0 mg, gan bò 10,0 mg vì vậy vấn đề bổ sung sắt cho chó con bằng con đường dinh dưỡng rất cần thiết cho quá trình tạo máu. Chó con mới sinh cần phải được bú sữa đầu. Vì trong sữa đầu có các kháng thể giúp chó con chống đỡ với một số bệnh truyền nhiễm. Hàm lượng kháng thể này giảm dần, đến khi 2 tháng tuổi hầu như không còn. Vì vậy kể từ lúc này người ta đã phải gây miễn dịch chủ động cho chó.
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com