Latest Post

Showing posts with label Cham Soc. Show all posts
Showing posts with label Cham Soc. Show all posts

Những Đặc Điểm Sinh Học Cần Biết Khi Khám Chữa Bệnh Cho Chó

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 5:09 AM

Vũ Như Quán
Đại học nông nghiệp Hà Nội
Thân hình chó là một cơ thể sống thống nhất, được cấu trúc từ những cơ quan, hệ thống khác nhau, thực hiện những chức năng sống thích hợp. Thể chất của chó, được xác định bởi những cấu trúc giải phẫu của nó. Từ những đặc điểm miêu tả bên ngoài của chó, cho chúng ta những hiểu biết quan trọng về những nguyên tắc chung tạo thành những dấu hiệu xác định, là đặc điểm cho giống này hay giống khác và thuộc tính của nó với nhóm giống. Ngoại hình của chó, bao gồm những hệ thống: Xương (xương, răng, sụn), cơ và da làm cơ sở cho những đặc điểm đó. Những hệ thống:

Thần kinh, tim-mạch, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, nội tiết và những hệ thống khác, thực hiện những chức năng sống quan trọng của cơ thể nhưng không quy định những đặc điểm giải phẫu bên ngoài. Vì vậy, khi tìm hiểu những đặc tính sinh học của chó, trước tiên chúng ta cần phải quan tâm đến bộ xương, hệ thống cơ, da và hình dáng của nó.

1. Hệ thống xương
Bộ xương của chó cũng như của các loại động vật có vú khác, là đòn bẩy của chuyển động, là chỗ tựa của những phần mềm trong cơ thể, là cơ quan bảo vệ, là chỗ để phát triển những cơ quan tạo máu (tủy xương đỏ), là kho dự trữ của những chất vô cơ cũng như hữu cơ, tham gia vào những quá trình trao đổi chất và sinh học trong cơ thể.

Bộ xương chó cấu trúc từ 247 xương và 262 khớp. Cột sống bao gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 đốt sống thắt lưng, 3 đốt sống khum, 20 – 23 đốt sống đuôi (một vài loài chỉ có 5 – 6 đốt sống đuôi, thường được gọi là chó cộc đuôi). Chó có 13 đôi xương sườn.

 Hinh 1: Bộ xương của chó
1- Phần mặt (facies); 2- Phần sọ (cránium); 3. Đốt sống cổ đầu tiên (átlas); 4. Những đốt sống cổ (vértebrae cervicáles; 5- Những đốt sống ngực (vértebrae thoracáles); 6- Những đốt sống hông (vértebrae lumbáles); 7- Những đốt sống đuôi (vértebrae coccugéae); 8- Xương chậu (os coxae); 9- Khớp chậu đùi (articulatio coxa); 10- Xương đùi (os fémoris); 11-Khớp đầu gối (articulatio genu); 12- Xương chày (tíbia); 13- Xương mác (fíbula) và xương chày (tíbia) làm thành xương cẳng chân (ossa cruris); 14- Xương gót chân (calcáneus); 15- Khớp cổ chân (articulatio calcáneus); 16- Khối xương cổ chân (ossa tarsi); 17- Khối xương bàn chân (ossa metatársi); 18- Khối xương ngón chân (dactylus); 19- Xương sườn (costa); 20- Xương ức (sternum); 21- Khối xương ngón tay (ossa digitorum); 22- Khối xương bàn tay (ossa metacárpi); 23- Khối xương cổ tay (ossa cárpi); 24- Xương trụ (ulna); 25- Xương quay (rádius) và xương trụ (ulna) tạo thành xương cẳng tay (ossa antebráchii); 26- Khớp khuỷu (articulatio cubiti); 27- Xương cánh tay (os bráchii); 28- Khớp bả vai cánh tay (articulatio humeri); 29- Xương bả vai (scápula).

Chân trước bắt đầu từ xương bả vai, xương cánh tay, xương cẳng tay (xương trụ và xương quay), xương cổ tay (có 7 xương nhỏ), xương bàn tay (có 5 xương), xương ngón tay (có 4 ngón 3 đốt, 1 ngón 2 đốt). Ở cuối những ngón chân là móng vuốt. Xương chân trước liên kết với các đốt sống không phải là khớp mà bằng những cơ chắc chắn. Phía trên xương bả vai là vây (u vai).

Chiều cao vây là chiều cao của chó và là một chỉ tiêu xác định giá trị giống của nó. Sự lệch với tiêu chuẩn: Cao hơn giới hạn trên và thấp hơn giới hạn dưới được coi là khuyết tật (là 1 trong những căn cứ để chấm điểm trong các cuộc thi, triển lãm về chó).

Xương chân sau bắt đầu từ xương chậu, xương đùi, xương cẳng chân, xương cổ chân (có 7 xương nhỏ), xương bàn chân có 4 hoặc 5 xương, xương ngón chân có 4 xương, đôi khi mặt trong từ nửa trên xương bàn có 1 ngón bất toàn (huyền đề) - không phải ở cá thể nào cũng liên kết với khối xương bàn chân. Ở nước ngoài, người ta coi nó như một hiện tượng không mong muốn, có thể cắt bỏ nó khi chó còn non. Ở nước ta, một số người quan niệm những ngón bất toàn ở chó có khả năng mang lại những cơ hội may mắn cho chủ nhân của những con chó đó. Trong dân gian còn lưu truyền câu ca dao: Dù ai buôn bán trăm nghề, không bằng nuôi chó huyền đề 4 chân.

Xương chân sau có một khớp nối với xương chậu (ổ cối), được cố định bằng các cơ của
nhóm cơ chậu đùi.

2. Hệ thống cơ
Hệ thống cơ đóng vai trò quan trọng trong ngoại hình và mô hình hóa một cách nổi bật cơ thể chó. Trong các tiêu chuẩn đánh giá vẻ đẹp của chó, hệ cơ đóng vai trò chủ yếu. Để chó có thân hình cân đối, hệ cơ cần được phát triển tốt, không có những dấu hiệu của sự quá béo hay quá gầy.

Các cơ của chó rất ít gân. Sự linh động của các nhóm cơ và những khúc cong của cơ thể là những nét đặc biệt để phân biệt, chấm điểm chó khi chọn giống hay trong các cuộc thi. Với mục đích bảo toàn năng lượng của cơ, chó thường ít đứng mà thích nằm nhiều hơn, chúng sẵn sàng nằm và chờ đợi khi chẳng có việc gì bắt buộc phải đứng.

3. Hệ thống da
Hệ thống da có 3 lớp: Biểu bì (epiderme), chân bì (derme), mô liên kết dưới da (hypoderme). Ở chân bì có nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn, tuyến thơm, mao quản, đầu mút thần kinh. Từ da đi ra những bó lông, cùng chung một bao lông. Mỗi bó riêng biệt có 3 (hay nhiều hơn) lông dài và to, 6 – 12 lông nhỏ và mềm, tất cả tạo thành lớp che phủ dầy và ấm cho chó về mùa đông, nhưng cũng thật sự phiền toái cho chúng khi mùa hè đến. Ở nước ta, những giống chó nhiều lông ngoại nhập thường trở nên cáu bẳn, bức xúc vào những ngày nóng nực, cần có chế độ tắm chải hợp lý hay cắt lông vào mùa hè cho chúng.

Vào mùa đông, người ta ít quan sát thấy chó thay lông. Mùa xuân đến chó thường thay lông.

Mùa hè sự thay lông của chó thường kết thúc, không quan sát thấy lông con ở chúng. Mùa thu lông bắt đầu mọc nhiều hơn. Hầu như tất cả cơ thể của chó được bao bọc bởi lớp lông dầy (ngoại trừ gương mũi, đệm ngón chân, bao dịch hoàn của con đực, âm hộ của con cái). Phía trên mắt, trên gò má, thái dương và ở môi trên phân bố một số lông dài hơn và rất cứng.

Tuyến mồ hôi của chó chỉ có ở phía cuối của 4 chân, từ đó tiết ra mồ hôi. Sự tiết mồ hôi của chó không có ở trên tất cả bề mặt da. Vì vậy, sự chênh lệch nhiệt độ cơ thể được điều chỉnh bằng đường hô hấp (phổi) là chính và nhờ vào sự bốc hơi của dịch niêm mạc và nước bọt. Những ngày oi bức, chúng ta quan sát thấy chó thường há miệng, thè lưỡi ra và thở rất nhiều để tăng cường sự thải nhiệt cho cơ thể. Lúc này cần thiết phải cho chó ăn thức ăn loãng và uống nước đầy đủ.

4. Những nét ngoại hình của chó
Để mô tả những nét ngoại hình của chó, người ta dùng các từ để chỉ các phần như sau:

Mõm, môi, cánh mũi, sống mũi, gò má, quãng gấp giữa mõm và trán, trán, mắt, gò trên mi, lông mày, đỉnh, gò chẩm, tai, cổ, mào cổ, họng, ngực, phần trước ngực, u vai, lưng, sườn, thắt lưng, hông, bụng, bẹn, mỏm hông xương cánh chậu, mông, đùi, đuôi, đầu gối, cẳng chân, cổ chân, bàn chân, bàn tay, ngón chân, ngón tay, cẳng tay, khuỷu, cánh tay, khớp bả vai - cánh tay, bả vai, họng.

Hình 1-2: Các phần cơ thể của chó
1- Sọ; 2- Thóp; 3- Tai; 4- Lồi cầu chẩm; 5- Cổ; 6- Mào cổ; 7- Vây (U vai); 8- Lưng; 9- Thắt lưng; 10- Mông; 11- Mỏm hông xương cánh chậu; 12- Đuôi; 13- Mông; 14- Đầu gối; 15- Cẳng chân; 16- Khớp cổ chân; 17- Bàn chân; 18- Ngón chân sau; 19- Bẹn; 20- Bụng; 21- Ngực; 22- Ngón tay ; 23- Bàn tay; 24- Cổ tay; 25- Cẳng tay; 26- Khuỷu; 27- Khớp bả vai-cánh tay (trước bả vai); 28- Trước ngực; 29- Bả vai; 30- Họng; 31- Mõm; 32- Cánh mũi; 33- Sống mũi; 34- Gò má; 35- Đoạn chuyển giữa mõm và trán; 36- Mắt; 37- Cung trên lông mày; 38- Trán.

5. Những dẫn liệu sinh lý lâm sàng cơ bản
- Thân nhiệt (oC)
      Chó nhỏ 37,5 – 39,0.
      Chó lớn 37,5 – 39,0.

- Mạch đập trong trạng thái yên tĩnh (số lần/ 1 phút)
      Chó nhỏ 100 – 130.
      Chó lớn 70 – 100.

- Nhịp thở của chó trong trạng thái yên tĩnh (số lần/ 1 phút)
      Chó nhỏ 18 – 26.
      Chó lớn 14 – 22.

- Tương quan giữa hít vào và thở ra: 1/1,6.

6. Sự làm việc của tim và tuần hoàn máu 
Xung động của mỏm tim tới gian sườn thứ 4 – 6, 1/3 dưới của lồng ngực, gần với rìa của xương ức (sternum).

Xung động của đáy tim về phía bên trái của cơ thể vào khoảng giữa gian sườn thứ 4 – 6, giới hạn trên là khớp bán động của xương sườn ở gian sườn thứ 6, theo hướng xuống dưới đi vào vùng gõ của gan.

Dung lượng máu khi tim co là 14ml/ 10 kg khối lượng cơ thể.

Dung lượng máu qua tim trong 1 phút là 1450 ml (khi tần số mạch đập khoảng 100
lần/phút).

Thời gian tuần hoàn máu là 16,7 giây.

Huyết áp: 104 – 172 mmHg

Điện tâm đồ của chó khỏe
       - Độ dài của 1 chu kỳ 0,582 giây.
       - Kỳ tâm thu (Q – T) 0,193 giây.
       - Kỳ tâm trương (T – Q) 0,389 giây.
       - Tương quan kỳ tâm trương/ kỳ tâm thu 2,01.
       - Thời gian chuyển tiếp xung động (P – Q) 0,1(giây).
       - Quãng nghỉ (T – P) 0,289 (giây).

7. Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu
- Tỷ trọng: 1,051 – 1,062.
- pH: 7,32 – 7,68.
- Thời gian đông máu (phút): 4 – 8.
- Khối lượng máu (%/ khối lượng cơ thể): 5,6 – 13,0.
- Tỷ khối hồng cầu (%): 50,4.
- Fibrinogen (mg%): 0,58.
- Sức kháng của hồng cầu trong dung dịch NaCl (%)
        + Tối thiểu: 0,50 – 0,58.
        + Tối đa: 0,40 – 0,46.
        + Trung bình: 0,42 – 0,58.
- Tốc độ huyết trầm (mm)
        + Thời điểm 30 phút: 1.
        + Thời điểm 1 giờ: 2.
        + Thời điểm 2 giờ: 4.
        + Thời điểm 24 giờ: 15.
- Hàm lượng đường tổng số (%): 0,09 – 0,11.
- Hàm lượng đường trong 100ml máu (mg): 60 – 87.

Thành phần tế bào máu
- Hồng cầu (triệu/mm3): 5,5 – 8,5.
- Hàm lượng hemoglobin (đơn vị Sali): 60 – 80.
- Tiểu cầu (nghìn/mm3): 200 – 600.
- Bạch cầu (nghìn/mm3): 8 – 18 (trung bình 12).
- Công thức bạch cầu (%)
         + BC ái kiềm 1 ( 0 – 2).
         + BC ái toan 3 (2 – 4).
         + BC đa nhân trung tính 74 (60 – 82).
         + BC đa nhân lớn 0,1 ( 0 – 0,3).
         + Limpho cầu 22 (13 – 32).

Những thành phần khác của máu (mg%)
- Canxi (giống chó lớn): 12,28 (12,02 – 12,54).
- Canxi (giống chó nhỏ): 8,37 (7,6 – 9,9).
- Natri: 331,3 (295,0 – 360,0).
- Kali: 20,32 (16,7 – 27,87).
- Magie: 1,7 – 2,9.
- Protein: 5,5 – 7,0.
       + Albumin (%): 33 – 56.
       + Globulin (%): 44 – 67.
- U rê: 15 – 40.
- Nitơ dư: 15 – 45.
- Phốt pho vô cơ: 2,5 – 5,0.
- Clorua: 350 – 410.
- Dự trữ kiềm: 50 – 60.

8. Những dẫn liệu về sinh lý tiêu hóa 
Nước bọt: Nước bọt đóng vai trò to lớn trong việc tiêu hóa của chó, nó là chất tiết của những tuyến nước bọt đổ và xoang miệng. Trong vòng một ngày đêm ở những con chó lớn có thể tạo thành 1,5 lít nước bọt. Sự tiết nước bọt của chó là thường xuyên. Nó tiết ra do hoạt động của 3 đôi tuyến nước bọt (gần tai, dưới hàm, dưới lưỡi) và những tuyến nước bọt nhỏ nằm trong niêm mạc xoang miệng. Tỷ trọng nước bọt của chó (1,005 – 1,008). Hàm lượng nước (98 – 99%), pH (7,56). Trong nước bọt có: Các thành phần vô cơ (các muối clorua, phốt phát, hydrocarbonat của kali, natri, canxi và magie, có dấu vết của sulfat và amoniac); các thành phần hữu cơ (albumin, globulin, muxin, amilaza, maltaza,... ). Ở chó có nét đặc biệt về sự hoạt động của lizosim trong nước bọt, nó có tính sát khuẩn mạnh. Sự liếm vết thương ở những động vật này có khả năng làm nhanh sự lành của vết thương.

Tiêu hóa ở dạ dày: Khối lượng dịch dạ dày ở chó dao động mạnh, phụ thuộc vào vào loại thức ăn và thành phần, thường trong khoảng 0,3 – 0,9 lít/1 lần tiếp nhận thức ăn. Dịch dạ dày có: Tỷ trọng (1,002 – 1,006), pH (0,8 – 1,0). Trong thành phần của dịch dạ dày gồm: Các chất hữu cơ (muxin, pepxin, kimozin, lipaza,...); chất vô cơ (axit clohydric, các muối clorua, phốt phát, sulfat của canxi, natri, kali, magie,...). Thời hạn lưu giữ thức ăn trong dạ dày không kéo dài, sự chuyển dịch của nó bắt đầu xảy ra ngay sau khi tiếp nhận thức ăn 0,5 – 1,0 giờ và kết thúc sau 6 – 8 giờ.

Tiêu hóa ở ruột: Độ dài ruột chó 2,3 – 7,3 mét (trung bình là 5 mét). Tương quan giữa độ dài thân với chiều dài của ruột là 1/5. Tốc độ dịch chuyển của thức ăn trong ống tiêu hóa là 7,7 cm/ giờ. Cặn bã được thải ra ngoài sau khi ăn 1,5 – 4 ngày. Dịch ruột để tiêu hóa được tiết ra trong giới hạn 100ml/ 1 ngày đêm, với pH (8,3). Phần vô cơ của dịch ruột có các muối: Clorua, carbonat, hydrocarbonat,... Phần hữu cơ của nó có: Muxin và các men erepxin, amilaza, lipaza,...

Tuyến tụy: Dịch tụy được tiết ra 1 – 35ml/ 1 ngày đêm, có tỷ trọng (1,006 – 1,010), hàm lượng nước (98 – 99%), pH (7,0 – 8,6). Phần vô cơ bao gồm các muối: Carbonat, hydrocarbonat của natri, canxi, kali và magie,... Những chất hữu cơ gồm: Albumin, globulin, muxin và các men (tripxin, erepxin, maltaza, lipaza,...).

Mật: Dịch mật đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Ở những con chó lớn nó được tiết ra tới 250ml/ 1 ngày đêm, với pH (5,33 – 7,08). Thành phần vô cơ là các muối clorua, carbonat, phốt phát, sulfat của magie, kali, canxi và sắt. Thành phần hữu cơ là các sắc tố mật,
colesterin và photphatit.

Sự bài tiết phân: Lượng phân được bài tiết khoảng 100 – 130 gam/ 1 ngày đêm. Phân chó có: Hàm lượng nước 65 – 85%, pH (6,7 – 8,4). Những con chó khỏe mạnh, thải ra phân thường có dạng khuôn. 

Nước tiểu: Lượng nước tiểu được tiết ra trong giới hạn 0,5 – 1,5 lít/ 1 ngày đêm ở những con chó lớn và 0,04 – 0,2 lít/ 1 ngày đêm ở những con chó nhỏ. Nước tiểu có tỷ trọng (1,016 – 1,060), pH (4,8 – 6,5). Sự bài tiết nước tiểu còn phụ thuộc vào loại thức ăn của chó.

9. Sinh lý thần kinh
Tất cả những quá trình của sự hoạt động sống xảy ra trong cơ thể chó, lúc bình thường cũng như khi mắc bệnh không khác với sinh lý của những động vật có xương sống khác. Chó cũng có các mô bào, những cơ quan và những hệ thống của cơ thể. Tuy nhiên, ở chó người ta đã ghi nhận được một số nét sinh lý đặc biệt. Sự khác biệt đó được thể hiện ở sinh lý sinh sản, hệ thống thần kinh trung ương hoàn chỉnh và hoạt động thần kinh cao cấp,... Tất cả những cái đó đã đưa con chó lên một vị trí đặc biệt trong các loại vật nuôi.

Hệ thống thần kinh trung ương thực hiện những chức năng quan trọng hàng đầu trong cơ thể. Trước tiên, nó đảm bảo hoàn toàn sự điều khiển tất cả những quá trình xảy ra trong cơ thể, sự phối hợp và liên kết giữa chúng, nhờ đó mà tất cả các hệ thống được hoạt động nhịp nhàng, chính xác. Tiếp theo, hệ thống thần kinh trung ương đảm bảo cho mối liên hệ của cơ thể với môi trường bên ngoài thay đổi thường xuyên. Những con chó có khả năng định hướng nhanh chóng trong hoàn cảnh xung quanh khác nhau. 

Hành vi của chó, trạng thái của nó gắn liền với loại hình xác định của hoạt động thần kinh cao cấp. Điều này được tính đến không những chỉ khi chó bị rối loạn hệ thống thần kinh mà còn được tính đến khi tổ chức khám-chữa bệnh cho chó.

Rõ ràng rằng, ngay cả trong những điều kiện bình thường, những con chó được phân biệttheo hành vi có những phản ứng rất khác nhau với những kích thích bên ngoài và quan hệ với người cũng không giống nhau.

Sự làm việc của bộ não xác định hành vi của động vật. Viện sĩ I.P. Pavlov khi tiến hành nghiên cứu, thí nghiệm ở chó đã xác định những loại hình hoạt động của hệ thần kinh cao cấp ở động vật và người. Học thuyết I.P. Pavlov về hoạt động của thần kinh cao cấp là phương pháp cơ bản khi chia động vật ra các typ, ở đó nhất định phải xem xét sức mạnh, sự điềm tĩnh và hoạt động của các quá trình hưng phấn và ức chế. Ông đã chia ra 4 loại hình hoạt động của hệ thống thần kinh.

a. Loại hình thứ nhất: mạnh, không cân bằng (choleric)
Chó có loại hình này thường nóng nảy, dễ xúc động, công kích, dữ dội. Chó có sự định hướng rất nhanh. Những phản xạ có điều kiện ở chúng được hình thành ngay lập tức và được phân biệt bằng sự trung thành. Trong những hoạt động quá căng thẳng của hệ thống thần kinh dễ dẫn đến loạn thần kinh chức năng.

b. Loại hình thứ hai: mạnh, cân bằng, linh hoạt (sanguinic)
Chó có loại hình thần kinh này phản xạ điềm tĩnh với môi trường xung quanh. Phản xạ có điều kiện ở chúng hình thành nhanh chóng và giữ rất lâu, vững chắc. Những quá trình hưng phấn và ức chế có độ mạnh và linh hoạt. Chó có đặc tính của những cá thể nhiệt huyết, sôi nổi. Loại chó này dễ huấn luyện, khả năng làm việc tốt, thường được gọi là những con chó khôn, quý.

c. Loại hình thứ 3: mạnh, cân bằng, ỳ (phlegmatic)
Chó có loại hình này thường lãnh đạm thờ ơ. Những quá trình hưng phấn và ức chế được phân biệt bằng độ mạnh tốt nhưng ít hoạt động. Tiếp nhận sự huấn luyện chậm, thiếu nhiệt tình trong công việc. Thường có tính ỷ lại.

d. Loại hình thứ 4: yếu ớt (melacolic)
Chó có loại hình này thường đa sầu, đa cảm. Những quá trình hưng phấn và ức chế yếu, thành lập phản xạ có điều kiện ở chúng rất khó. Những chó này rất nhát, thường đi vào huấn luyện một cách miễn cưỡng. Khi bị căng thẳng, ở chúng rất dễ dẫn đến sự rối loạn hoạt động của hệ thống thần kinh.

Để đánh giá chó, trong các cuộc triển lãm, thi hoa hậu, thi đấu thể thao, khi mua-bán chó, người ta thường dùng các từ: Dữ dội, hăng hái, thiếu hăng hái, dịu dàng, lãnh đạm; ngay cả: Khôn, dũng cảm, thẳng thắn, nham hiểm, giảo quyệt, hung ác, kích động; hay: Quý, tốt bụng, tin cậy, không tin tưởng, nhát gan,...

Người ta xác định rằng, những dẫn liệu thần kinh của chó khỏe mạnh khác với dẫn liệu khi chúng mắc bệnh, hoặc nghiêng về hưng phấn hoặc nghiêng về ức chế. Những con chó trở thành kích thích khi mắc bệnh ở đại não và màng não, bệnh dại, trúng độc,... Trạng thái ức chế được ghi nhận ở chó trong nhiều bệnh khác nhau: Tăng u rê huyết, viêm gan, tổn thương nhiệt và ánh sáng, các bệnh truyền nhiễm, khi mất máu nhiều,... Trạng thái ức chế của chó đôi khi còn phụ thuộc vào chứng đần độn bẩm sinh, thường liên quan đến sự phát triển sinh lý không đầy đủ, sự lùn và dị hình. Trạng thái này đặc trưng bằng sự thiếu hụt phản ứng với hoàn cảnh xung quanh và thể hiện ở dạng buồn ngủ, những trạng thái mơ màng, mơ ngủ.

10. Những dẫn liệu sinh học khác
Chó là một trong những loài động vật phổ biến trên thế giới, thêm vào đó nó có khuynh hướng đặc biệt sống giữa mọi người. Trong thức ăn đòi hỏi cả thức ăn có nguồn gốc động vật và thức ăn có nguồn gốc thực vật. Thính giác và khứu giác ở chó đặt tới sự hoàn chỉnh. Người ta phân biệt “đẳng cấp” của chó với các loại động vật khác chính bằng sự phát triển cao của các giác quan này. Thị giác ở chó phát triển kém hơn. Người ta cho rằng những con chó nhà có khả năng nhìn từ xa kém hơn so với người.

Chó có những đặc điểm: Thông minh lạ thường, trung thành và tin cậy đối với con người, đức tính hy sinh, gan dạ và dũng cảm, trí nhớ tốt, tính tình dịu dàng, thính giác rất nhạy bén, sự linh cảm phát triển cao. Có thể liệt kê được 7 đức tính của chó: Trung thành với chủ nhân; uy vũ không khuất phục; vật chất khó cám dỗ; hăng hái, tận tụy trong công việc; gan dạ và quả cảm; thủy chung với bạn bè; thù dai.

Chó là động vật đa thai, thông thường chó cái mang 4 – 5 thai và hơn nữa. Bản năng làm mẹ rất phát triển. Sự canh gác và bảo vệ, quan tâm đến con của nó có thể đặt tới sự hy sinh. Những con chó đực thì ngược lại, đối với thế hệ sau chúng thường lạnh nhạt, trong những trường hợp cá biệt có thể trở thành thù địch.

Sữa của những con chó cái có: Tỷ trọng (1,034), pH (6,0 – 6,4), hàm lượng vật chất khô (23%), protein tổng số (9,72 %), cazein (4,15%), albumin và globulin (5,57%), mỡ (9,25%), đường sữa (3,11% ) và tro (0,91%).

Nước mắt đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chức năng hoạt động của mắt. Nó làm ướt mắt, là dịch dinh dưỡng của mắt, và duy trì sự hằng định của môi trường quang học, đảm bảo cho hoạt động bình thường của thị lực. Trạng thái khô bề mặt ngoài của mắt và ngược lại sự chảy nước mắt không bình thường, chứng tỏ về bệnh lý không những chỉ ở tuyến lệ và cơ quan thị giác mà ngay cả ở những hệ thống và cơ quan khác của cơ thể. Trong thành phần của nước mắt có chất hoạt động lizosim, nhờ nó mà nước mắt cũng có tính sát khuẩn. Nước mắt làm vô hiệu hóa vi khuẩn và virus, thực hiện chức năng bảo vệ, ngăn cản hàng loạt các bệnh. Ngoài chức năng bảo vệ, nước mắt còn nuôi giác mạc (cung cấp chất dinh dưỡng cho nó và đưa những sản phẩm trao đổi chất đi). Qua giác mạc sự trao đổi khí với khí quyển cũng được thực hiện.

Chó còn có những đặc điểm sinh học đặc biệt khác: Nó có giấc ngủ tốt nhưng nhẹ nhàng với những giấc mơ gián đoạn, có khả năng ăn cỏ (như những động vật tự chữa bệnh cho mình) hay là có những tư thế, dáng điệu xác định trước những sự thay đổi của thời tiết. Những con chó nhất định phải ngửi nhau một cách cẩn thận, như là để làm quen với nhau. Nét đặc biệt đặc trưng của những động vật này là sự tài đánh hơi của những con đực phát hiện ra những con cái đang sắp có sự ham muốn tình dục.

11. Sự phát triển răng và cách xác định sự sinh trưởng của chó
Chó có khả năng sống tới 20 năm. Ở chúng có 42 răng (chia ra: 12 răng cửa, 4 răng nanh, 2 răng kép ở hàm dưới và 24 răng hàm). Tuy nhiên người ta cho rằng không phải ở mọi con chó đều có số lượng răng như thế. Những cá thể cá biệt có thể có số lượng răng ít hơn hoặc nhiều hơn thế.

Công thức răng được thể hiện: 6/6 - 2/2 - 8/8 - 4/6. Con số đầu tiên biểu thị răng cửa (R), số thứ 2 là răng nanh (C), số thứ 3 là răng hàm nhỏ (Rm), số cuối cùng là răng hàm vĩnh viễn (M).
Công thức răng thường có dạng viết số lượng răng của 1/2 của hàm: R (3/3) – C (1/1) – Rm (4/4) – M (2/3). Răng hàm được chia ra 12 răng ở hàm trên (6 về mỗi phía) và 14 răng ở hàm dưới (1 răng kép hay răng khểnh và 6 răng hoạt động về mỗi phía). 

Trong số răng hàm có 3 hoặc 4 răng ở phía trước phải thay răng, được gọi là răng hàm nhỏ, số còn lại là răng vĩnh viễn (thường xuyên) không có sự thay răng. Trong số các răng hàm có 4 răng ở hàm trên và 6 răng ở hàm dưới to nhất và đóng vai trò quan trọng trong việc nghiền thức ăn cứng.

Răng kép (hay răng khểnh) có 1 răng về mỗi phía ở hàm dưới, mọc giữa răng nanh và răng
hàm nhỏ đầu tiên, cũng không có sự thay răng. 

Răng nanh phải thay răng, với mức độ nào đó chúng có hình dạng của chiếc móc, ở những con chó lớn tuổi răng nanh thể hiện to hơn.

Răng cửa vĩnh cửu (thay thế cho những răng cửa sữa) có 6 chiếc ở mỗi hàm và phân bố đối xứng nhau. Chúng được chia ra: Răng cửa trước, răng cửa giữa và răng cửa bên.

Răng cửa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lứa tuổi của chó. Vấn đề là ở chỗ, thân của mỗi răng cửa đều lồi lên 3 mũi nhọn, chúng sẽ bị mài mòn và biến mất với thời gian. Những con chó con thì chưa mọc răng. Khi xác định lứa tuổi của chó người ta tính đến những dấu hiệu sau: Sự mọc lên của những răng sữa và sự mất đi của chúng, sự mọc các răng khôn và sự mòn dần rồi mất đi của chúng. Độ nhanh của sự mòn răng còn phụ thuộc vào sức khỏe của chó, sự mắc bệnh này hay bệnh khác, và ngay cả độ vững chắc của men răng.

Sự xuất hiện những răng khác nhau với chỉ tiêu sinh trưởng

Loại răng Tuần tuổi
Răng chưa mọc chiếc nào 3 – 4
Xuất hiện răng cửa 4 – 5
Mọc 2 răng hàm đầu tiên 4 – 6
Mọc răng hàm thứ 3 6 – 8
 

Tháng tuổi
Mọc răng kép hàm dưới 3 – 5
Mọc răng hàm thứ 4 4 – 5
Mọc răng hàm thứ 5 5 – 6
Mọc răng hàm thứ 6 6 – 7

 

Sự thay răng, mòn răng theo lứa tuổi
Sự thay răng sữa Tháng tuổi
Răng cửa trước 2 – 4
Răng cửa giữa 3 – 5
Răng cửa cạnh 4 – 6
Răng nanh 4 – 5

 

Sự mòn răng khôn Năm tuổi
Răng cửa với đầy đủ 3 gai nhọn 1
Răng cửa trước mất gai nhọn 2
Răng cửa giữa mất gai nhọn 4 – 5
Răng cửa cạnh mất gai nhọn, thân răng mòn 10 – 12
 

Sự nghiêng lệch hay dị dạng của răng thường xảy ra. Trong những trường hợp như thế những răng khôn không mọc được ở chính chỗ của mình mà ở chỗ khác vì răng sữa vẫn còn đó. Những răng mọc lệch chỉ được chỉnh lại khi nhổ răng sữa đi. Đôi khi quan sát được sự phân bố răng không đối xứng, ngay cả có chỗ thiếu răng. Những trường hợp như thế thường gặp ở những con chó mắc bệnh còi xương hay các bệnh nặng khác.

Những con chó về già xuất hiện xỉ vôi (chất cặn ngưng đọng) bám quanh răng. Hiện tượng như thế dẫn đến tình trạng xỉn màu răng, viêm lợi rồi lung lay và rụng răng.
 

Răng cửa trước cả hàm trên và hàm dưới rụng 12 năm tuổi.
 

Tất cả răng hàm trước rụng 16 năm tuổi.
 

Những con chó quá già thường rụng hết răng và lông.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2001). Sinh sản gia súc./ Nhà xuất bản
Nông nghiêp.// Hà Nội.
2. Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996). Sinh lý học gia
súc./ Nhà xuất bản Nông nghiệp.// Hà Nội.
3. Phạm Xuân Vân (1982). Giáo trình Giải phẫu gia súc./ Nhà xuất bản Nông nghiệp.// Hà Nội.
4. Beliakov I.M., V.A. Lukianovxki và các tác giả (1996). Bệnh của chó./ Nhà xuất bản “Niva
Ratxii”.// Cộng hoà Liên bang Nga.
5. Lukianovxki V.A., I.M. Beliakov và các tác giả khác (1998). Chữa bệnh cho chó./ Nhà xuất bản
“Niva Ratxii”.// Cộng hoà Liên bang Nga.
6. Morgan R.V. (1997). Sổ tay thực hành động vật nhỏ./ Nhà xuất bản W.B. Saunders.
Philadelphia.// U.S.A.
7. Preston Hoskins H., J.V. Lacroix, Karl Mayer (1966). Bệnh của chó./ Nhà xuất bản American
Veterinary Publications.// U.S.A.
8. Slatter D.H. (1985). Ngoại khoa động vật nhỏ./ Nhà xuất bản W.B. Saunders Compani.
Philadelphia.// U.S.A.

Sưu Tầm: http://vetbookshop.blogspot.com 

Kỹ Thuật Nuôi Chó Con Đang Bú Sữa

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 13, 2013 | 8:47 PM

Sau khi ra khỏi bụng mẹ, chó con bắt đầu phải chịu đựng điều kiện sống tương đối khắc nghiệt như : nhiệt độ, ôn độ, ẩm độ và điều kiện dinh dưỡng hoàn toàn mới lạ và việc bú sữa mẹ, cơ quan tiêu hóa chính thức hoạt động.

Việc nuôi dưỡng chó con tuân theo một số giai đoạn với những biện pháp kỹ thuật hết sức khoa học, nhằm hướng tới đích là : chó khỏe mạnh, phát triển tốt.

Nuôi chó con đúng khoa học là tạo cho con chó có sức chịu đựng dẻo dai, thích nghi với hoàn cảnh sống Việt Nam, chó luôn cảnh giác với người lạ, khứu giác, thính giác phải nhạy, cũng cần dạy cho chó “vâng lời”.



Muốn có đàn chó con khỏe mạnh cần chú ý đến chất lượng chó bố và chó mẹ. Khi chó mẹ mang thai và cả khi nó nuôi con đều phải được nuôi dưỡng đầy đủ, chú ý chất đạm, khoáng và vitamin.

Chó con mới sinh ra chưa thích nghi với điều kiện sống mới, nên phải quan tâm đầy đủ tới chúng như : đệm lót phải sạch, khô, đảm bảo nhiệt độ ấm thường xuyên (nếu nhiệt độ thích hợp, chó con tản đều, ngủ tốt, nếu quá lạnh chúng chụm vào nhau, quá nóng chúng phân tán nhiều hơn, tỏ ra khó chịu). Chú ý, khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường (mưa bão đột ngột).

Chó con mới sinh ra phải cho bú sữa mẹ, nhất thiết phải được bú sữa đầu (vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể giúp chó con chống đỡ bệnh tật). Khi mới sinh chó chưa có răng, lỗ khe tai đóng lại chó con chuyển động rất khó khăn, mọi hoạt động của chó con lúc này nhờ bản năng như : tìm vú mẹ và bú mút, chó mẹ cũng tạo thuận lợi cho chó con bú sữa. Nếu chó mẹ vụng về (tức là bản năng không phát triển) người chủ chó phải đưa sát mõm chó con vào đầu vú mẹ, lúc này cần theo dõi hành vi của chó mẹ và sự bú mút của chó con, nếu có gì không bình thường cần mời bác sĩ thú y.

Sau khi chó con ra đời được 1 ngày phải theo dõi chúng hoạt động có bình thường không, đồng thời kiểm tra các ngón thừa. Thường sau 3 - 4 ngày người ta phải cắt ngón thừa cho gọn. Mỗi ổ chó sinh ra thường nuôi từ 4 - 7 con tùy khả năng và sự tiết sữa của chó mẹ, từ ngày thứ 3 - 10 cần cắt phần nhọn ở hai chân trước của chó con (đề phòng chúng cào rách vú mẹ) đến ngày thứ 20 cắt lại một lần nữa.

Cần cho chó mẹ ăn đủ chất, chú ý đủ chất đạm (protit, khoáng và vitamin nhóm A, nhóm B).

Trong thời kỳ đầu nuôi chó con chủ yếu bằng sữa chó mẹ, và từ ngày thứ 5 trở đi có thể cho chó con ăn thêm sữa bò.

Việc cho chó con ăn theo một khẩu phần hợp lý có ý nghĩa lớn đến sự phát triển của chó sau này. Khi mới sinh chó được bú sữa mẹ tương đối đủ (nếu được bú no đủ, chó ngủ tốt) nếu thiếu sữa chó cựa quậy đòi ăn.

Sau khi đẻ được 5 - 10 ngày cho chó con ăn thêm sữa hâm nóng, lúc đầu bú bằng vú cao su, về sau rót sữa ra đĩa và dúi mõm chó con vào đĩa có sữa để chó con tự liếm sữa cho quen dần cách “tợp” sữa. Hàng ngày cho mỗi chó con ăn thêm 100 - 200 ml sữa đến khi chó được 120 ngày tuổi.

Chó con được 15 ngày tuổi, cho ăn thêm cháo sữa, có thịt băm (khoảng 20 gam thịt nạc), mỗi ngày cho ăn 1 - 2 bữa.

Từ tuần tuổi thứ ba (21 ngày tuổi) cho chó con ăn thêm cháo gạo ninh nhừ, trộn thịt nạc băm, mỗi ngày cho chó ăn 2 bữa. Từ 30 ngày tuổi trở đi, lượng thịt tăng lên từ 20 - 50 gam cho mỗi ngày.

Cũng từ ngày tuổi thứ 30 trở đi cho ăn thêm khoai tây, rau xanh, lượng rau và khoai tây tăng dần, tăng lượng vitamin.
- Các loại vitamin A và D thường được quan tâm hơn cả, và được bổ sung bằng dầu gan cá thu.
- Các chất khoáng đa lượng và vi lượng rất cần thiết cho quá trình tạo khung xương và tham gia nhiều quá trình trao đổi chất.
- Chó con dưới 120 ngày tuổi, mỗi ngày cho ăn 5 bữa, từ 4 - 6 tháng tuổi, mỗi ngày cho ăn 4 bữa, từ 6 tháng trở lên mỗi ngày cho ăn 3 bữa hoặc 2 bữa, lượng thức ăn được tăng dần theo mức độ phát triển của cơ thể chó con. Cần quan tâm đến độ choán dạ dày chó con.
Chó con từ 30 - 60 ngày tuổi mỗi bữa cho ăn từ 100 - 200 ml thức ăn, từ 2 - 4 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn từ 0,2 - 0,3 lít. Từ 6 - 11 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn 0,4 lít hỗn hợp thức ăn (tùy chó lớn hay bé mà điều chỉnh dung tích thức ăn).

Theo dõi tình hình phát triển bình thường của chó con theo một trình tự như sau : chó con sinh ra được 5 - 8 ngày, khe tai mở, thính giác bắt đầu phát triển, đến 11 - 16 ngày thính giác đã hoạt động bình thường. Từ ngày thứ 11 - 15 (tùy theo số lượng chó con sinh ra) khe mắt bắt đầu mở. Từ ngày thứ 20 - 25 răng sữa bắt đầu mọc. Trong khoảng từ 8 - 10 ngày (kể từ khi mọc răng) răng cửa, răng nanh mọc xong. Khi chó con được 60 ngày tuổi răng sữa cơ bản mọc xong. Nếu răng mọc chậm, chứng tỏ sự nuôi dưỡng không đầy đủ và sự phát triển của chó con là kém.

 Cân trọng lượng để đánh giá tình trạng phát triển và sức khỏe của chó con.
Chó xù Nhật Bản nuôi ở Việt Nam bình quân trọng lượng khi mới sinh dao động trong khoảng
0,1 - 0,5 kg. Trong 10 ngày đầu mỗi ngày cân một lần, từ 30 ngày trở đi cách một ngày cân một lần. Sau đó cách 5 ngày cân một lần. Kết quả mỗi lần cân đều ghi cẩn thận vào sổ đăng ký. Căn cứ vào bảng ghi ta đánh giá tình trạng phát triển của chó con, và dựa vào qui luật sau đây để đánh giá.

Nếu nuôi dưỡng đầy đủ, khi 30 ngày tuổi một số chó có thể nặng 1 - 1,2 kg. Theo một số chuyên gia nuôi chó cho biết tốc độ chó con tăng nhanh 60 - 180 ngày tuổi, độ dài tứ chi tăng từ 2,5 - 3 lần, lúc này xương ống ngừng phát triển, lồng ngực vẫn phát triển, độ dài đốt các ngón, chiều cao vây tạm ổn định. 


Tốc độ lớn mãnh liệt nhất của chó diễn ra trước khi nó được 6 tháng tuổi. Chiều cao vây tăng từ 87,5 - 108% khi chó được 120 ngày tuổi, và từ 120 - 180 ngày tuổi chỉ tăng thêm 3,5 - 7%, từ 180 - 210 ngày tuổi tăng 7,1 - 8,3%, từ 6 - 11 - 12 tháng tuổi, chó lớn lên rất ít, hầu như ngừng lại, tuy vậy mãi cho tới khi chó được 2,5 tuổi mới ngừng lớn. 

Từ đặc điểm sinh lý này của chó, giúp ta nuôi dưỡng chó một cách hợp lý. Việc chăm sóc nuôi dưỡng chó con từ khi mới sinh cho đến khi chó được 210 ngày tuổi có tính chất quyết định trong nghề nuôi chó.

Cũng trong thời kỳ này việc cho ăn thức ăn bổ sung giàu chất khoáng và vitamin cực kỳ cần thiết. Các chất khoáng, vitamin có nhiều trong thịt nạc, trứng, sữa, gan. Trong 100 gam sữa tươi có 120 mg canxi, 95 mg phốt pho, 14 mg magiê, 0,1 mg sắt và 34 mg lưu huỳnh. Hàm lượng sắt trong sữa là thấp nhất. Trong khi đó đậu tương có 11,0 mg sắt, gan lợn 12,0 mg, gan bò 10,0 mg vì vậy vấn đề bổ sung sắt cho chó con bằng con đường dinh dưỡng rất cần thiết cho quá trình tạo máu. Chó con mới sinh cần phải được bú sữa đầu. Vì trong sữa đầu có các kháng thể giúp chó con chống đỡ với một số bệnh truyền nhiễm. Hàm lượng kháng thể này giảm dần, đến khi 2 tháng tuổi hầu như không còn. Vì vậy kể từ lúc này người ta đã phải gây miễn dịch chủ động cho chó

Nguồn: PTS. PHẠM SĨ LĂNG – PTS. PHAN ĐỊCH LÂN - Thượng tá Công an BÙI VĂN ĐOAN 

Cách Nuôi Cún Con Khi Mất Mẹ

Nuôi dưỡng và cho ăn
Với chó mồ côi, cung cấp những chất dinh dưỡng cần thiết luôn là vấn đề quan trọng. Chó con phải được cho ăn bằng bình bú hoặc bằng ống. Bú bình là phương pháp cho ăn được ưa chuộng. Cho ăn bằng ống là phương pháp chỉ dành cho những ai đã thành thạo, vì ống có thể sẽ vô tình xuyên qua phổi và gây tắc nghẽn khi cho chó con ăn. Cho chó ăn khi nó nằm ngửa chứ không nằm sấp, như đối với trẻ nhỏ.

Những loại sữa thương mại dành riêng cho chó con thì có sẵn và được cân bằng dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cần thiết của những chú chó mồ côi. Tuy nhiên ta có thể sử dụng thức ăn chế biến tại nhà. Chúng không hoàn toàn cân bằng dinh dưỡng, nhưng cũng đủ cho chó con trong một vài ngày trước khi ta có được sữa thương mại bán sẵn.



Các chất thay thế sữa mẹ cho chó con trong trường hợp khẩn cấp:
+ 1 tách sữa (sữa bò hoặc sữa dê).
+ 1 nhúm muối ăn.
+ 3 lòng đỏ trứng – không lấy lòng trắng.
+ 1 muỗng canh dầu bắp.
+ 1 muỗng cà phê vitamin lỏng.

Cần lưu ý:

+ Không nên cho lòng trắng trứng sống vì 1 loại enzym trong lòng trắng trứng có thể gây ra tình trạng thiếu chất biotin. Enziym này bị tiêu hủy khi nấu chín thức ăn.

Cho dù dùng công thức thức ăn thương mại hay công thức chế biến tại nhà thì cũng chỉ nên pha một lượng cho ăn đủ 1 lần trong 1 ngày và giữ trong tủ lạnh. Rửa sạch và để khô bình và đầu vú hoặc ống giữa những lần cho ăn. Hâm nóng sữa trong nồi nước ở nhiệt độ 37 – 38 0C trước khi cho ăn.

Giữ chúng ở tư thế thẳng hay đặt chúng trên vai bạn và vỗ nhẹ vào lưng chúng trong và sau khi ăn. Việc cho ăn bằng bình bú được thực hiện hết sức cẩn thận để tránh xảy ra tình trạng viêm phổi hay sặc trong quá trình hấp thu. Việc cho bú bình góp phần giúp cho quá trình tạo phản xạ ăn của chúng.

Trong vòng 48 – 72 tiếng đầu tiên, cho ăn 2 giờ một lần. Trong thời gian còn lại của tuần đầu, cho ăn 3 giờ 1 lần vào ban ngày với 2 lần cho ăn cách nhau 4 giờ vào ban đêm. Tuần thứ 2, những lần cho ăn cách nhau 4 giờ trong ngày với 1 lần ăn cách nhau 6 giờ vào ban đêm. Vào tuần thứ 3, chúng nên được bắt đầu cho ăn cháo bột dành cho chó 3 lần trong ngày và vẫn tiếp tục cho bú bình.

Làm cháo bột bằng cách cho 2 tách thức ăn khô chất lượng cao dành cho chó con trộn với 250 gr chất thay thế sữa trên và sau đó cho thêm nước nóng. Hỗn hợp này cần được trộn đều cho đến khi có độ sệt như bột ngũ cốc cho trẻ (Hỗn hợp này đủ cho 6 – 8 chó con với kích thước trung bình).

Vào tuần thứ 4, cháo bột có thể được cho ăn 4 – 5 lần một ngày và có thể giảm dần việc bú bình. Việc cho ăn vào giữa đêm có thể giảm và cũng có thể ngưng hẳn. Chúng có thể hoàn toàn dùng thức ăn lỏng trong 6 tuần tuổi.

Chia nhu cầu calori hàng ngày thành 6 – 12 lần ăn phù hợp với tuổi của chúng. Một chú chó con vào khoảng 8 ounce (1/2 pound – 230 gr) kỳ vọng tiêu thụ khoảng 30 ml (1 ounce – 28 gr) sữa pha trong vòng 24 tiếng. Hầu hết các loại sữa pha chế đều chứa khoảng 60 calori cho 1 ounce (khoảng 28 gr). Điều này có nghĩa là một chú chó con nặng 8 ounce sẽ tiêu thụ khoảng 30 calori trong vòng 24 giờ. Đây chỉ là những hướng dẫn và cho ăn nhiều lần với liều lượng ít mỗi lần ăn thì tốt hơn cho ăn một lượng lớn với chỉ 1 lần ăn. Nếu chó vẫn không tăng cân, chúng cần thêm thức ăn. Nếu chúng bị tiêu chảy, có thể là chúng bị cho ăn quá mức.

Lượng calori hấp thu:
- Tuần 1: 60-69 Calori/pound/ngày
- Tuần 2: 70-79 Calori/pound/ngày
- Tuần 3: 80-89 Calori/pound/ngày
- Tuần 4: 90-100 Calori/pound/ngày

Cân mỗi chú chó cùng một lúc ít nhất là 1 lần/ ngày trong 10 ngày đầu tiên. Sau đó là 3 – 4 lần/ tuần cho 10 ngày tiếp theo. Không tăng cân thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ở những chú chó con.

Kích thích vệ sinh 
Một chú chó mới sinh không thể tự đi vệ sinh hay vận động đường ruột. Chúng thiếu khả năng kiểm soát cơ thể cần thiết cho những chức năng này. Một chú chó con cần được kích thích để đi vệ sinh và tống chất thải ra khỏi cơ thể. Việc này thường được chó mẹ thực hiện. Chúng thường vuốt hay liếm vào vùng hậu môn của chó con để kích thích chúng đi vệ sinh.

Những chú chó con không có mẹ phải được kích thích bằng tay của chủ nó để có thể đi vệ sinh. Chúng phải được kích thích sau mỗi lần cho ăn. May mắn là công việc này khá dễ dàng. Một quả banh bằng cotton hay một mẫu khăn lông mềm dùng rất tốt. Thấm nước chúng và nhẹ nhàng chà xát vào vùng hậu môn và vùng sinh dục. Trong vòng vài phút, chó con sẽ đi vệ sinh. Một số con thực hiện việc này tốt hơn trước khi ăn trong khi một số con khác lại làm tốt hơn sau khi ăn.

Vì thế cần kích thích chó con trước lẫn sau khi ăn để đảm bảo sức khỏe cho chúng. Cần ghi lại mỗi lần chúng đi vệ sinh. Chó con sẽ cần được kích thích theo cách này cho tới khi bàng quang và cơ ruột của chúng mạnh hơn, thường là sau 21 ngày tuổi. Hầu hết chó con sẽ tự bài tiết được sau 3 tuần tuổi.

Quan sát nước tiểu và phân để nhận ra những dấu hiệu của sức khỏe không tốt. Nước tiểu phải có màu vàng nhạt hay sạch. Nếu nó có màu vàng sậm hay cam, nghĩa là chúng không được cho ăn đầy đủ. Không nên cho ăn nhiều một lần, mà nên cho ăn nhiều lần. Phân phải có màu nâu từ nhạt tới sậm và hình thành từng phần. Phân xanh có nghĩa là bị nhiễm độc và phân quá cứng nghĩa là không đủ lượng thức ăn.

Bạn lưu ý rằng, nếu phân cứng, nên cho ăn nhiều lần tốt hơn là tăng lượng thức ăn cho mỗi lần ăn. Có thể cho chó ăn nhiều, nhưng không quá nhiều lần. Quá nhiều thức ăn sẽ gây phồng, khí độc, nôn mửa và đôi khi gây ra sự hút khí vào phổi.

Nhiệt độ và độ ẩm 
Để giữ sức khỏe, chó con cần được giữ ở một nhiệt độ thích hợp. Chó con không thể duy trì nhiệt độ cơ thể cũng như không thể run để tạo ra nhiệt. Cung cấp những nguồn nhiệt nhân tạo như lò ấp, đèn nhiệt, túi nước nóng hay túi nhiệt điện sẽ giúp chó con duy trì nhiệt độ cơ thể thích hợp. Hãy chú ý đến những nguồn nhiệt, việc không để những nguồn nhiệt trở nên quá nóng hay làm bỏng chó con là rất quan trọng. Để nhiệt kế gần chó con và kiểm tra nhiệt độ xung quanh.

Một bóng đèn 25W treo trên đáy của một chiếc hộp nhỏ sẽ cung cấp đủ nhiệt. Đặt nhiệt kế dưới đèn để kiểm tra nhiệt độ. Những túi nhiệt cần được kiểm tra cẩn thận trước khi dùng, vì những chú chó con còn quá yếu không thể di chuyển ra xa khỏi những túi nhiệt và có thể bị bỏng. Nếu phải dùng túi nhiệt, hãy bao chúng lại bằng một cái khăn lông dày hoặc bằng vải da cừu để bảo vể chúng khỏi bỏng.

Trong tuần đầu, nhiệt độ không khí cần được duy trì ở mức 32 – 35 oC và độ ẩm khoảng 55 – 56%. Giai đoạn đầu tuần thứ 2, dần dần giảm nhiệt độ xuống còn khoảng 29oC. Trong tuần thứ 3 là 27oC. Trong tuần thứ 4 là 24oC. Sau 5 tuần, giảm nhiệt độ xuống còn 21oC hay nhiệt độ trung bình trong phòng. Dùng những giác quan thông thường. Nếu những chú chó con nằm chồng lên nhau suốt ngày, chúng đang lạnh. Nếu chúng nằm trườn cách xa nhau, chúng đang nóng. Nếu chúng nằm cạnh nhau thì nhiệt độ là bình thường.

Những chú chó con bị giảm thân nhiệt (nhiệt độ trong cơ thể thấp) nên được sưởi ấm từ 2 – 3 giờ để đạt nhiệt độ cơ thể bình thường khoảng 36oC. Trước khi được cho ăn, nhiệt độ cơ thể của chúng phải đạt ở mức bình thường.

Giữ độ ẩm ở mức bình thường đối với người. Trong chiếc hộp làm cho chó con, phủ một chiếc khăn đã thấm nước sẽ giúp tăng hơi ẩm. Không bao giờ nuôi chó con trong sự ẩm ướt hay ở những tầng hầm ẩm thấp. Những nơi này thường ẩm thấp và đọng nước nên thường lạnh và gây ra nấm mốc cũng như nhiễm khuẩn đường hô hấp. Kiểm soát nhiệt độ quan trọng hơn là độ ẩm.

Chó con nên được đặt trên những bề mặt nhẵn và dễ di chuyển như mền được trải ra và giữ cố định vào mỗi mặt của chiếc hộp nuôi.

Phòng bệnh
 
Rất nhiều chó con không có mẹ luôn có nguy cơ cao bị các bệnh nhiễm khuẩn như bệnh sốt ho và bệnh parvovirus (gây viêm dạ dày, nôn mửa, đi tiêu ra máu…). Điều này đặc biệt đúng với những chú chó con mồ côi không nhận được sữa non từ mẹ chúng.

Sữa non chỉ có trong vòng 24 giờ sau khi sinh rất giàu những chất kháng thể chống lại các loại bệnh. Sữa non chứa những chất kháng thể khi được chó con hấp thu sẽ tạo ra sự miễn dịch chống lại rất nhiều bệnh. Những con không được bú mẹ sẽ không hấp thụ được sữa non và hệ miễn dịch sẽ không tốt. Vì thiếu sự miễn dịch, việc tiêm phòng đầy đủ cho chó con là cực kỳ quan trọng. Một số bác sỹ thú y khuyên rằng nên tiêm phòng sớm cho chó con.

Việc tẩy giun cho chó con thường xuyên được khuyến cáo bởi Hiệp hội những nhà nghiên cứu ký sinh trên thú nuôi của Mỹ (AAVP), Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh (CDC), Hội đồng nghiên cứu ký sinh trùng trên động vật (CAPC) như sau: điều trị lần đầu khi 2 tuần tuổi; lặp lại khi 4, 6, và 8 tuần tuổi; sau đó hàng tháng dùng thuốc phòng giun chỉ để kiểm soát những vật ký sinh đường ruột. Sử dụng thuốc chống giun kết hợp chống ký sinh đường ruột sẽ giảm nguy cơ bị bệnh về ký sinh trùng. Nếu không sử dụng thuốc sẽ bị nhiễm giun vào giai đoạn 2, 4, 6 và 8 tuần tuổi.

Nuôi dưỡng và hòa nhập cộng đồng 
 Chó con cần được khuyến khích về cả thể chất lẫn tinh thần. Nếu chúng có bạn cùng lứa, chúng sẽ kích thích nhau phát triển. Ôm ấp chó con khi bạn đánh thức chúng, khi ăn và khoảng thời gian sau khi ăn. Chúng cần được như thế để có thể lớn nhanh.

Cho chó con có sự tương tác lẫn nhau với những thành viên trong gia đình là rất quan trọng khi chúng được 5 – 6 tuần tuổi. Nên nhớ rằng, nó vẫn còn là một đứa trẻ và phải được chăm sóc cẩn thận, nhưng bạn cũng nên tập cho nó làm quen với tiếng ồn, chải lông, người mới và những con thú khác. Hòa nhập sớm và việc giúp chó con cảm thấy an toàn trong môi trường riêng của chúng sẽ giúp ngăn ngừa nhiều vấn đề xảy ra trong tương lai.
Bài viết của Tiến sĩ Foster và Smith

Dấu Hiệu Trước Khi Sanh Và Cách Đỡ Đẻ Cho Chó

I. Đỡ đẻ 
Tại sao cần đỡ đẻ cho chó ? 

Chó mang thai tới thời điểm sinh nở rất cần sự chú ý đặc biệt để bảo đảm "Mẹ tròn con vuông". Phần lớn chó tự "đỡ đẻ" theo bản năng nhưng nếu không có quan tâm của chủ có thể xảy ra tổn thất đáng tiếc. Có những giống chó rất khó đẻ: chó Bull Dog, Boxer, Chihuahua...hoặc chó được nuôi chăm" quá cẩn thận" và ngược lại bị còi cọc ốm yếu cũng rất khó đẻ. Trong một ca đẻ cũng có con sinh ra dễ, con ra khó do tư thế ngôi thai hoặc tình trạng sức khỏe chó mẹ.

Vì vậy đỡ đẻ là hỗ trợ rất cần thiết , chỉ dựa vào kinh nghiệm, hiểu biết về sinh sản của chó chưa đủ mà còn có kỹ năng khéo léo cuả đôi bàn tay của con người. Tốt nhất bạn cần hỗ trợ của các nhà chuyên môn nhân giống hoặc các Bác sỹ thú y- " Cẩn tắc vô áy náy" (To be Safe rather than Sorry).


Làm sao biết chó sắp đẻ?
Có thể chia ra 3 giai đoạn để nhận biết chó khi nào đẻ: 


1. Dạo ổ:
Trước khi đẻ 24 giờ: Đã có sữa màu trắng đặc trưng. Chó ăn ít, bỏ ăn, bụng sa, cơ bụng giãn mềm ( sụt bụng) . Có phản xạ ỉa đái nhiều lần ( ỉa xón, đái giắt ). Nếu trước đó chó ăn no, có thể nôn ra thức ăn do sự chèn ép của dạ con vào dạ dày.

Từ 12-2 giờ trước khi đẻ: Kiểm tra thân nhiệt ( trực tràng ), nhiệt độ hạ thấp dao động từ 36.7'C- 37.5'C chó có thể run rẩy đặc biệt vào mùa rét lạnh hoặc bị ướt mưa lũ. Chó đi lại, đứng nằm không yên, có phản xạ cào bới tìm ổ đẻ, hay chui rúc xó tối, nơi yên tĩnh. Mắt mở to nhìn chủ cầu xin, không muốn xa rời chủ.

Âm hộ sưng phù nề, có dịch lỏng trong suốt chảy ra.
Xử lý: Thông báo ngay chó bác sỹ Thú y hoặc các chuyên gia sinh sản đến khám trước khi sinh.

2. Đau đẻ, sắp đẻ:
Cuống quýt, kêu rên ư ử. Tần số hô hấp tăng, nhịp tim nhanh thở mạnh. Rất muốn quay lại liếm đằng sau. Rặn cong lưng nhiều cơn.

Lưu ý: Nếu có nước ối chảy ra khỏi âm hộ màu xanh mà chưa ra con là bất bình thường, cần có kiểm tra, hỗ trợ của bác sỹ thú y.

3. Đẻ:
Có bọc màng ối trong lòi ra như một quả bóng con. Chó rặn liên tục, bục vỡ nước ối, âm hộ

phình to căng cứng, có thể trông thấy từng bộ phận rồi cả con chó con ra ngoài trong cái bọc mỏng. Can thiệp: Nếu đã lòi ra ngoài 1/2 thân chó con mà sau vài phút không ra tiếp phải dùng thủ thuật kéo nhẹ nhàng chó con hướng lực từ trên xuống dưới, từ trứơc ra sau càng nhanh càng tốt. Xé bọc khẩn cấp, lau khô miệng chó con tới khi kêu thành tiếng.


II. Những yêu cầu quan trọng với chủ chó khi có chó sắp đẻ:

1. Nắm chắc ngày phối giống.

2. Theo dõi các dấu hiệu sắp đẻ và báo cáo bác sỹ thú thăm khám và tư vấn.

3. Quản lý chắc chắn chó mẹ khi có dấu hiệu nghi sắp đẻ trước 24 giờ, đề phòng chó mẹ đẻ rơi bỏ chết con mà chủ không biết.

4. Chuẩn bị ổ đẻ, thuốc sát trùng, panh kẹp máu, khăn bông sạch, về sinh khu vực đẻ... trong trường hợp không có hỗ trợ của bác sỹ thú y.

5. Dùng thuốc kích đẻ Oxytoxine tiêm phải có chỉ định của Bác sỹ 1. Nắm chắc ngày phối giống.

6. Bất cứ dấu hiệu bất thường nào: chảy máu quá nhiều, rặn đẻ không ra con, ngôi thai ngược, mẹ yếu suy kiệt... phải báo bác sỹ thú y khám cấp cứu.
 



 
                                                Hình ảnh thai thuận, đẻ bình thường: 

Hình ảnh ra 2 bọc ối một lúc: bất thường cần có bác sỹ thú y khám: 
 
 Bình thường 
 
Bất thường. 
 
Kỹ thuật cắt rốn chó sơ sinh:
Chú ý :

II. Sảy thai, đẻ non, đẻ khó ở chó.
Sảy thai, đẻ non, đẻ khó ở chó cần được nhìn nhận một cách khoa học để có các biện pháp thích hợp trong chăm sóc và nuôi dưỡng chó sinh sản nhằm hạn chế thấp nhất các thiệt hại về kinh tế, giúp bảo tồn các giống chó phục vụ lợi ích của con người.

Bộ máy sinh dục cái của chó : mang thai 40 ngày.

1. Sảy thai ở chó: 
Chó mang thai dưới một tháng mà bị ra thai gọi là "sảy thai". Nhiều chủ nuôi nhận biết chó sau khi phối giống chắc chắn đã có chửa : phát triển bụng, phát triển nầm vú và thậm chí đã có sữa non, nhưng rồi bụng bé dần và không sinh đẻ, đã cho rằng "có hiện tượng tiêu thai". Thực ra không có "tiêu thai", thời kỳ này bào thai và nhau thai rất nhỏ, với chó giống nhỏ như : Cocker, chihuahua, Phú quốc ... chỉ bé bằng "hạt lạc ", khi sảy thai chó tự động liếm sạch sẽ, thậm chí chúng ta không hề biết là thai đã ra !

Hiện tượng mang thai giả: thực chất vật chủ không có thai nhưng mọi triệu chứng đều có như đang mang thai, cũng dễ nhầm lẫn với sảy thai.

2. Đẻ non:
Thai đã lớn trên một tháng, chưa đến lúc sinh, do một lý do nào đó không tồn tại trong cơ thể mẹ được bị tống ra ngoài gọi là đẻ non. Lúc này chủ nuôi dễ nhận biết do phát hiện được có máu đẻ và các chất thối rữa, xác của bào thai...Chó mẹ thường có phản xạ "ăn" thai và các chất thối rữa, dễ bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy...cần chăm sóc và báo BSTY can thiệp.

3. Các dấu hiệu " báo trước" sảy thai và đẻ non: 
Hiện tượng có sữa sớm trước một tháng mang thai là báo hiệu sảy thai, "sữa" không có màu trắng của sữa mà chỉ là dịch trong, nhớt hoặc ố vàng. Chó mẹ thường hay quay lại liếm phía sau : các dịch và chất thải từ cửa mình.

Có sữa trằng trước khi dự kiến sinh 15- 20 ngày , chó mẹ bị ốm bệnh, ăn ít , khó chịu như dấu hiệu đẻ thường, có sơn rặn và co bóp tử cung dữ dội.

Chưa tới ngày sinh mà có dịch hôi bẩn hoặc nhớt xanh dính chảy ra từ âm hộ.

4. Các nguyên nhân gây sảy thai, đẻ non:  
Do phối giống ngay lần động dục đầu tiên, cơ thể chó mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh.

Phối giống đồng huyết, cận huyết.

Điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc không tốt.

Các stress bất lợi về tâm lý hoặc thời tiết khí hậu quá nóng bức ngột ngạt do vận chuyển đường dài, chuyển vùng hoặc nhập khẩu.

Giảm sức đề kháng, chó mắc các bệnh truyền nhiễm do virus : Parvo, Carre, Viêm khí quản - phế quản truyền nhiễm, các bệnh do vi trùng : Sảy thai truyền nhiễm Brucellosis, Lepto...

Theo thói quen và các dị tật của bộ máy sinh dục cái.

5. Đẻ khó :
Là hiện tượng khó hoặc không thể ra thai khỏi cơ thể chó. Có thể do nhiều nguyên nhân :

Do giống chó : Không chỉ có Chihuahua mà phần lớn các giống chó nhỏ thuộc loại "toydogs" như phốc sóc, Yorkshire Terrier...những giống này có kết cấu xương chậu hẹp, nếu thai to thường khó đẻ, hay phải mổ vì thai không thể lọt qua cửa khung xương chậu ra ngoài được. Thậm chí giống to hơn như English Bulldog...cũng phải mổ đẻ tỷ lệ đến trên 70% vì cấu tạo hộp sọ rất lớn so với thân.

Do cho chó sinh nở quá sớm, quá muộn. Chó trên 4 tuổi mới cho đẻ lần đầu, hoặc chó đã già còn cho đẻ, khung xương chậu không còn tổ chức sụn đàn hồi, dãn nở nữa nên khó đẻ.

Do bệnh tật: Bị ốm khi mang thai. Bị viêm tử cung , hoặc lộn tử cung khi phối giống. Bệnh Gien : Lai đồng huyết, cận huyết, thai quái dị.

Do Tâm lý chó mẹ lúc đẻ : Tâm thần hoảng loạn, sợ hãi gây xuất huyết chảy máu đường sinh dục, vỡ ối trước, thai chết ngạt không ra được gây "tắc nghẽn" cho các thai sau. Chủ quá âu yếm, thương xót, vuốt ve nhiều làm "giảm đau đẻ tâm lý" cũng gây đẻ khó hoặc đẻ lâu.

Do chăm sóc không hợp lý : Cho mẹ ăn quá thừa chất khi mang thai lại ít vận động, thai to, mẹ ỳ ạch, trì trệ sẽ rất khó đẻ. Khi mang thai tiêm nhiều loại thuốc bổ trợ không cần thiết cũng là một loại stress không tốt cho thai. Ít vận động,thiếu ánh sáng khi mẹ mang thai. Do chuyển đổi chủ mới, chỗ ở mới trước khi cho sinh đẻ.

Chủ chó cần tự tìm hiểu, phán đoán khả năng sinh đẻ con để có tư vấn chuẩn xác của BSTY kẻo không kịp mổ gây chết mẹ, con.

Các Kỹ Thuật Để Chăm Sóc Chó Sơ Sinh

Những thiên thần cún cưng luôn là niềm quan tâm hàng đầu vs các bạn yêu thú vật .

Không ít các trường hợp không may mắn hiện nay đã dẫn đến hoàn cảnh 1 số bé không được chăm sóc bởi mẹ - ví dụ như là mẹ phải mổ đẻ, bị bẫy trộm, mẹ ko nuôi vì cảnh giác nguy hiểm, hay mẹ chết trong lúc sinh, bị bắt đem bán...
Sau đây là một số kỹ thuật chăm sóc cún con dành cho các bạn có cún đang trong giai đoạn sơ sinh.
Kỹ thuật nuôi chó con đang bú sữa
Sau khi ra khỏi bụng mẹ, chó con bắt đầu phải chịu đựng điều kiện sống tương đối khắc nghiệt như : nhiệt độ, ôn độ, ẩm độ và điều kiện dinh dưỡng hoàn toàn mới lạ và việc bú sữa mẹ, cơ quan tiêu hóa chính thức hoạt động.
Việc nuôi dưỡng chó con tuân theo một số giai đoạn với những biện pháp kỹ thuật hết sức khoa học, nhằm hướng tới đích là : chó khỏe mạnh, phát triển tốt.
Nuôi chó con đúng khoa học là tạo cho con chó có sức chịu đựng dẻo dai, thích nghi với hoàn cảnh sống Việt Nam, chó luôn cảnh giác với người lạ, khứu giác, thính giác phải nhạy, cũng cần dạy cho chó “vâng lời”.
Muốn có đàn chó con khỏe mạnh cần chú ý đến chất lượng chó bố và chó mẹ. Khi chó mẹ mang thai và cả khi nó nuôi con đều phải được nuôi dưỡng đầy đủ, chú ý chất đạm, khoáng và vitamin.
Chó con mới sinh ra chưa thích nghi với điều kiện sống mới, nên phải quan tâm đầy đủ tới chúng như : đệm lót phải sạch, khô, đảm bảo nhiệt độ ấm thường xuyên (nếu nhiệt độ thích hợp, chó con tản đều, ngủ tốt, nếu quá lạnh chúng chụm vào nhau, quá nóng chúng phân tán nhiều hơn, tỏ ra khó chịu). Chú ý, khi khí hậu thời tiết thay đổi bất thường (mưa bão đột ngột).
Chó con mới sinh ra phải cho bú sữa mẹ, nhất thiết phải được bú sữa đầu (vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể giúp chó con chống đỡ bệnh tật). Khi mới sinh chó chưa có răng, lỗ khe tai đóng lại chó con chuyển động rất khó khăn, mọi hoạt động của chó con lúc này nhờ bản năng như : tìm vú mẹ và bú mút, chó mẹ cũng tạo thuận lợi cho chó con bú sữa. Nếu chó mẹ vụng về (tức là bản năng không phát triển) người chủ chó phải đưa sát mõm chó con vào đầu vú mẹ, lúc này cần theo dõi hành vi của chó mẹ và sự bú mút của chó con, nếu có gì không bình thường cần mời bác sĩ thú y.
Sau khi chó con ra đời được 1 ngày phải theo dõi chúng hoạt động có bình thường không, đồng thời kiểm tra các ngón thừa. Thường sau 3 - 4 ngày người ta phải cắt ngón thừa cho gọn. Mỗi ổ chó sinh ra thường nuôi từ 4 - 7 con tùy khả năng và sự tiết sữa của chó mẹ, từ ngày thứ 3 - 10 cần cắt phần nhọn ở hai chân trước của chó con (đề phòng chúng cào rách vú mẹ) đến ngày thứ 20 cắt lại một lần nữa.
Cần cho chó mẹ ăn đủ chất, chú ý đủ chất đạm (protit, khoáng và vitamin nhóm A, nhóm B). Trong thời kỳ đầu nuôi chó con chủ yếu bằng sữa chó mẹ, và từ ngày thứ 5 trở đi có thể cho chó con ăn thêm sữa bò.
Việc cho chó con ăn theo một khẩu phần hợp lý có ý nghĩa lớn đến sự phát triển của chó sau này. Khi mới sinh chó được bú sữa mẹ tương đối đủ (nếu được bú no đủ, chó ngủ tốt) nếu thiếu sữa chó cựa quậy đòi ăn.
Sau khi đẻ được 5 - 10 ngày cho chó con ăn thêm sữa hâm nóng, lúc đầu bú bằng vú cao su, về sau rót sữa ra đĩa và dúi mõm chó con vào đĩa có sữa để chó con tự liếm sữa cho quen dần cách “tợp” sữa. Hàng ngày cho mỗi chó con ăn thêm 100 - 200 ml sữa đến khi chó được 120 ngày tuổi.
Chó con được 15 ngày tuổi, cho ăn thêm cháo sữa, có thịt băm (khoảng 20 gam thịt nạc), mỗi ngày cho ăn 1 - 2 bữa.
Từ tuần tuổi thứ ba (21 ngày tuổi) cho chó con ăn thêm cháo gạo ninh nhừ, trộn thịt nạc băm, mỗi ngày cho chó ăn 2 bữa. Từ 30 ngày tuổi trở đi, lượng thịt tăng lên từ 20 - 50 gam cho mỗi ngày.
Cũng từ ngày tuổi thứ 30 trở đi cho ăn thêm khoai tây, rau xanh, lượng rau và khoai tây tăng dần, tăng lượng vitamin.
*  Các loại vitamin A và D thường được quan tâm hơn cả, và được bổ sung bằng dầu gan cá thu. - Các chất khoáng đa lượng và vi lượng rất cần thiết cho quá trình tạo khung xương và tham gia nhiều quá trình trao đổi chất.
*  Chó con dưới 120 ngày tuổi, mỗi ngày cho ăn 5 bữa, từ 4 - 6 tháng tuổi, mỗi ngày cho ăn 4 bữa, từ 6 tháng trở lên mỗi ngày cho ăn 3 bữa hoặc 2 bữa, lượng thức ăn được tăng dần theo mức độ phát triển của cơ thể chó con. Cần quan tâm đến độ choán dạ dày chó con.
Chó con từ 30 - 60 ngày tuổi mỗi bữa cho ăn từ 100 - 200 ml thức ăn, từ 2 - 4 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn từ 0,2 - 0,3 lít. Từ 6 - 11 tháng tuổi mỗi bữa cho ăn 0,4 lít hỗn hợp thức ăn (tùy chó lớn hay bé mà điều chỉnh dung tích thức ăn).
Theo dõi tình hình phát triển bình thường của chó con theo một trình tự như sau : chó con sinh ra được 5 - 8 ngày, khe tai mở, thính giác bắt đầu phát triển, đến 11 - 16 ngày thính giác đã hoạt động bình thường. Từ ngày thứ 11 - 15 (tùy theo số lượng chó con sinh ra) khe mắt bắt đầu mở. Từ ngày thứ 20 - 25 răng sữa bắt đầu mọc. Trong khoảng từ 8 - 10 ngày (kể từ khi mọc răng) răng cửa, răng nanh mọc xong. Khi chó con được 60 ngày tuổi răng sữa cơ bản mọc xong. Nếu răng mọc chậm, chứng tỏ sự nuôi dưỡng không đầy đủ và sự phát triển của chó con là kém.
Cân trọng lượng để đánh giá tình trạng phát triển và sức khỏe của chó con.
Chó xù Nhật Bản nuôi ở Việt Nam bình quân trọng lượng khi mới sinh dao động trong khoảng 0,1 - 0,5 kg. Trong 10 ngày đầu mỗi ngày cân một lần, từ 30 ngày trở đi cách một ngày cân một lần. Sau đó cách 5 ngày cân một lần. Kết quả mỗi lần cân đều ghi cẩn thận vào sổ đăng ký. Căn cứ vào bảng ghi ta đánh giá tình trạng phát triển của chó con, và dựa vào qui luật sau đây để đánh giá.
Nếu nuôi dưỡng đầy đủ, khi 30 ngày tuổi một số chó có thể nặng 1 - 1,2 kg.
Theo một số chuyên gia nuôi chó cho biết tốc độ chó con tăng nhanh 60 - 180 ngày tuổi, độ dài tứ chi tăng từ 2,5 - 3 lần, lúc này xương ống ngừng phát triển, lồng ngực vẫn phát triển, độ dài đốt các ngón, chiều cao vây tạm ổn định.
Mức tăng trọng của chó so với sơ sinh :
  • 8 - 9 ngày tuổi : Tăng gấp 2 lần
  • 18 ngày : Tăng 3,5 - 4 lần
  • 25 ngày : Tăng 5 - 6 lần
  • 30 ngày : Tăng 6 -7 lần
  • 45 ngày : Tăng 10 - 11 lần
Tốc độ lớn mãnh liệt nhất của chó diễn ra trước khi nó được 6 tháng tuổi. Chiều cao vây tăng từ 87,5 - 108% khi chó được 120 ngày tuổi, và từ 120 - 180 ngày tuổi chỉ tăng thêm 3,5 - 7%, từ 180 - 210 ngày tuổi tăng 7,1 - 8,3%, từ 6 - 11 - 12 tháng tuổi, chó lớn lên rất ít, hầu như ngừng lại, tuy vậy mãi cho tới khi chó được 2,5 tuổi mới ngừng lớn.
Từ đặc điểm sinh lý này của chó, giúp ta nuôi dưỡng chó một cách hợp lý. Việc chăm sóc nuôi dưỡng chó con từ khi mới sinh cho đến khi chó được 210 ngày tuổi có tính chất quyết định trong nghề nuôi chó.
Cũng trong thời kỳ này việc cho ăn thức ăn bổ sung giàu chất khoáng và vitamin cực kỳ cần thiết. Các chất khoáng, vitamin có nhiều trong thịt nạc, trứng, sữa, gan. Trong 100 gam sữa tươi có 120 mg canxi, 95 mg phốt pho, 14 mg magiê, 0,1 mg sắt và 34 mg lưu huỳnh. Hàm lượng sắt trong sữa là thấp nhất. Trong khi đó đậu tương có 11,0 mg sắt, gan lợn 12,0 mg, gan bò 10,0 mg vì vậy vấn đề bổ sung sắt cho chó con bằng con đường dinh dưỡng rất cần thiết cho quá trình tạo máu. Chó con mới sinh cần phải được bú sữa đầu. Vì trong sữa đầu có các kháng thể giúp chó con chống đỡ với một số bệnh truyền nhiễm. Hàm lượng kháng thể này giảm dần, đến khi 2 tháng tuổi hầu như không còn. Vì vậy kể từ lúc này người ta đã phải gây miễn dịch chủ động cho chó.
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com