Latest Post

Showing posts with label Chuan Doan. Show all posts
Showing posts with label Chuan Doan. Show all posts

Giới Thiệu Về Kỹ Thuật ELISA

Written By Chăn Nuôi on Tuesday, June 18, 2013 | 6:26 AM

Tổng quan

ELISA (Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay) hay EIA (Enzyme ImmunoAssay) là một kỹ thuật sinh hóa để phát hiện kháng thể hay kháng nguyên trong mẫu xét nghiệm. Hiện nay ELISA được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như y học, nông nghiệp và đặc biệt là trong các quy trình kiểm tra an toàn chất lượng các sản phẩm sinh học. Nguyên lý của ELISA chính là dựa vào tính đặc hiệu kháng nguyên – kháng thể và gồm các bước cơ bản như sau: 

(1) Kháng nguyên – antigen (KN) chưa biết được gắn trên một bề mặt;
(2) Kháng thể – antibody (KT) biết trước được “rửa” qua bề mặt đó. Kháng thể này được gắn kết với enzyme;
(3) Thêm vào một cơ chất (substance); enzyme sẽ biến đổi cơ chất này và tạo tín hiệu có thể xác định được. 

Đối với các ELISA phát quang, ánh sáng sẽ được phát ra từ mẫu chứa KN-KT. Sự hiện diện của phức hợp KN-KT sẽ quyết định cường độ sáng phát ra. 

Với nguyên lý trên, ELISA giúp xác định sự có mặt hay không có mặt cũng như lượng KN trong mẫu nghiên cứu. 

Để tiến hành ELISA cần phải có ít nhất một KT đặc hiệu cho KN chưa biết. Thông thường KN được cố định tại các giếng của vi phiếm (polystyrene microtiter plate). 

- Phương thức cố đinh không đặc hiệu: KN gắn trực tiếp vào bề mặt của đĩa;
- Phương thức gắn đặc hiệu (“sandwich” ELISA): KN được gắn với một kháng thể đặc hiệu cho cùng kháng nguyên cần kiểm tra 

KT đặc hiệu sẽ được thêm vào, phản ứng tạo phức hợp KT-KN có thể sảy ra. 

Nếu KT được gắn trực tiếp với enzyme, tín hiệu quang học do enzyme làm biến đổi cơ chất sẽ giúp phát hiện KN cần kiểm tra. Trong trường hợp sử dụng KT thứ cấp (secondary antibody) được gắn với enzyme thông qua các liên kết cộng hóa trị giữa các phân tử sinh học (bioconjugation), KN cần xác định sẽ được nhận biết qua KT thứ cấp này. 

Giữa các bước của ELISA, các protein và các KT không đặc hiệu, KT không gắn với KN sẽ được lấy đi nhờ các loại dịch có tác dụng “rửa”. Sau bước “rửa” cuối cùng, chỉ còn KT liên kết với KN được giữ lại. Sau khi được thêm vào, cơ chất sẽ chịu tác dụng của enzyme liên kết với KT trong phức hợp KT-KN. Phản ứng phát quang (biến đổi cơ chất) sẽ sảy ra. 

Trước đây các cơ chất tạo màu sắc được sử dụng trong ELISA nhưng ngày nay các chất phát quang được dùng rộng rãi làm tăng tính đặc hiệu và độ chính xác của ELISA. 

Lịch sử phát triển

Vào năm 1960, Rosalyn Sussman Yalow và Solomon Berson Prior mô tả phương pháp miễn dịch có gắn chất phóng xạ (radioimmunoassay) dùng để xác định KN, KT 1. Trong phương pháp này, KT hay HN có gắn chất đánh dấu phóng xạ và sự hiện diện của chúng được xác định thông qua tín hiệu phóng xạ. Tuy vậy, các chất phóng xạ lại tiềm ẩn mối nguy hiểm vì vậy người ta nghĩ đến một phương pháp mới trong đó tín hiệu được phát ra không phải nhờ phóng xạ. Khi đó người ta đã biết rằng một số loại enzyme như các peroxidase phản ứng với một số cơ chất nhất định như Tetramethylbenzidine hay 3-ethylbenzthiazoline-6-sulphonic acid sẽ phát màu. Màu sinh ra từ các phản ứng này có thể được sử dụng làm tín hiệu nhận biết (tín hiệu chỉ thị). 

Tuy nhiên, để tín hiệu này được sử dụng như chất phóng xạ trong radioimmunoassay, tín hiệu màu phát ra phải đồng nghĩa với sự có mặt của KT hay KN. Chính vì vậy, giải pháp được đưa ra là enzyme sẽ được gắn với KN hay KT. Kỹ thuật gắn kết enzyme với KN hay KT được phát triển bởi Stratis Avrameas và G.B. Pierce 2. Tiếp sau đó, vào năm 1966, Wide và Porath phát triển phương pháp gắn KN và KT trên bề mặt rắn (bề mặt của các vi phiếm hay các đĩa) nhờ đó mà KN hay KT không được gắn kết sẽ dễ dàng được rửa trôi 3. 

Peter Perlmann và Eva Engvall (Thụy Điển) cùng với nhóm Anton Schuurs và Bauke van Weemen (Hà Lan) công bố phương pháp được đặt tên ELISA (EIA) dựa trên tất cả những bước phát triển nói trên. Phương pháp chính thức ra đời vào năm 1971 4,5. 

Ứng dụng

Một số ứng dụng của ELISA:

- Xác định nồng độ của KT trong huyết thanh;
- Kiểm tra sự có mặt của KN;
- Phát hiện các yếu tố có khả năng gây dị ứng trong thực phẩm;
- Xác định sự có mặt của dược phẩm;
- Xác định hoạt tính của một hợp chất sinh học

Các phương pháp ELISA

1. ELISA gián tiếp (indirect ELISA) 

Gồm các bước chính:
- Chuyển KN đã biết lên bề mặt cứng ( được gọi chung là các đĩa). KN sẽ được cố định trên bề mặt. Nồng độ của các mẫu kháng nguyên này dùng để thiết lập đường chuẩn cho việc tính nồng độ của kháng nguyên trong các mẫu chưa biết.

- Chuyển các mẫu KN chưa biết vào các giếng khác. KN chưa biết được hòa tan trong cùng một loại dung dịch đệm giống các mẫu KN chuẩn. Đĩa 96 giếng (microtiter) thường được dùng cho ELISA.

- Thêm dung dịch protein không tương tác (non-interacting protein) như albumin huyết thanh bê (bovine serum albumin) hay casein vào tất cả các mẫu (kể cả mẫu chuẩn). Bước này được gọi là “blockin” do protein huyết thanh có tác dụng ngăn cản sự hấp phụ của các protein khác lên bề mặt của đĩa.

- Rửa bề mặt đĩa sau đó chuyển kháng thể (biết trước) vào tất cả các giếng của đĩa. KT sẽ kết hợp với các KN đã được cố định mà không kết hợp với protein của huyết thanh.

- Thêm KT thứ cấp (secondary antibody), KT thứ cấp sẽ kết hợp với bất kỳ một KT còn dư (bước này có thể được bỏ qua nếu kháng thể dùng để phát hiện KN đã gắn với enzyme).
- Rửa đĩa, các kháng nguyên gắn enzyme còn dư sẽ được loại bỏ.

- Thêm cơ chất. Enzyme sẽ làm biến đổi cơ chất làm sản sinh tín hiệu huỳnh quang hay tín hiệu điện hóa học (enzyme có tác dụng như yếu tố khuyếch đại).

Nhược điểm cơ bản: Bước cố định KN không có tính đặc hiệu nên bất kỳ protein nào cũng gắn với bề mặt đĩa vì vậy KT (có nồng độ thấp) phải cạnh tranh với các protein khác trong huyết thanh khi gắn kết với bề mặt của điwax. Sandwich ELISA hạn chế được nhược điểm này.

2. Sandwich ELISA: 

Phương pháp được sử dụng để phát hiện KN trong mẫu nghiên cứu và bao gồm các bước cơ bản sau (quy trình có thể được thay đổi trong nhiều trường hợp):

(1) Chuẩn bị bề mặt (microtiter) có gắn KT
(2) Khóa tất cả những vị trí gắn kết không đặc hiệu trên bề mặt.
(3) Phủ mẫu chứa kháng KN cần xác định
(4) Rửa đĩa, kháng KN không được gắn kết sẽ bị rửa trôi
(5) Thêm các KT đặc hiệu cho KN cần chẩn đoán
(6) Thêm KT thứ cấp đã được gắn với enzym (KT thứ cấp đặc hiệu cho KT sơ cấp ở bước 5)
(7) Rửa đĩa, phần không gắn kết sẽ bị rửa trôi.
(8) Thêm cơ chất. Enzym sẽ biến đổi cơ chất tạo màu, phát quang hay tín hiệu hóa điện.
(9) Đo cường độ ánh sáng, tín hiệu huỳng quang, tín hiệu điện hóa… qua đó xác định sự có mặt và hàm lượng KT.

Các bước trong Sandwich ELISA. (1) Phủ đĩa bằng KT (2) Thêm mẫu cần xác định KN. KN (nếu có) sẽ gắn với KT; (3) kháng thể dùng để phát hiện được thêm vào và kết hợp với KN; (4) Thêm KT thứ cấp liên kết với enzyme. KT thứ cấp sẽ gắn với KT dùng để phát hiện; (5) Thêm cơ chất. Enzym sẽ làm biến đổi cơ chất và phát tín hiệu có thể phát hiện và đo được.

3. ELISA cạnh tranh:

(1) “Ủ” KT không được đánh dấu với KN.
(2) Đưa hỗn hợp này vào các giếng của vi phiếm có chứa KN.
(3) Rửa đĩa, KT không được gắn kết sẽ bị rửa trôi. Lượng KN càng lớn, lượng KT gắn thành công với KN trong đĩa càng thấp do “cạnh tranh”.
(4) Thêm KT thứ cấp (KT của KT ở bước 1). KT thứ cấp gắn với enzym.
(5) Thêm cơ chất. Lượng enzym còn dư sẽ giải phóng tín hiệu hỳnh quang hay tín hiệu màu.
Trong phương pháp này, hàm lượng KN gốc càng cao, tín hiệu sản sinh càng yếu.
Một số trường hợp, enzym được gắn với KN chứ không phải KT.
 
Tài liệu tham khảo

1. Yalow R, Beón S (1960). “Immunoassay of endogenous plasma insulin in man”. Journal of Clinical Investigation 39: 1157–75.
2. Lequin R (2005). “Enzyme immunoassay (EIA)/enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA).” Clinical Chemistry 51 (12): 2415–8.
3. Wide L, Porath J. Radioimmunoassay of proteins with the use of Sephadex-coupled antibodies. Biochem Biophys Acta 1966;30:257-260
4. Engvall E, Perlman P (1971). “Enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA). Quantitative assay of immunoglobulin G”. Immunochemistry 8 (9): 871–4.
5. Van Weemen BK, Schuurs AH (1971). “Immunoassay using antigen-enzyme conjugates.”. FEBS Letters 15 (3): 232–6
Nguồn: ĐHNL Huế

Xem thêm:

ELISA Lý thuyết và thực hành ELISA

Những Đặc Điểm Sinh Học Cần Biết Khi Khám Chữa Bệnh Cho Chó

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 5:09 AM

Vũ Như Quán
Đại học nông nghiệp Hà Nội
Thân hình chó là một cơ thể sống thống nhất, được cấu trúc từ những cơ quan, hệ thống khác nhau, thực hiện những chức năng sống thích hợp. Thể chất của chó, được xác định bởi những cấu trúc giải phẫu của nó. Từ những đặc điểm miêu tả bên ngoài của chó, cho chúng ta những hiểu biết quan trọng về những nguyên tắc chung tạo thành những dấu hiệu xác định, là đặc điểm cho giống này hay giống khác và thuộc tính của nó với nhóm giống. Ngoại hình của chó, bao gồm những hệ thống: Xương (xương, răng, sụn), cơ và da làm cơ sở cho những đặc điểm đó. Những hệ thống:

Thần kinh, tim-mạch, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, nội tiết và những hệ thống khác, thực hiện những chức năng sống quan trọng của cơ thể nhưng không quy định những đặc điểm giải phẫu bên ngoài. Vì vậy, khi tìm hiểu những đặc tính sinh học của chó, trước tiên chúng ta cần phải quan tâm đến bộ xương, hệ thống cơ, da và hình dáng của nó.

1. Hệ thống xương
Bộ xương của chó cũng như của các loại động vật có vú khác, là đòn bẩy của chuyển động, là chỗ tựa của những phần mềm trong cơ thể, là cơ quan bảo vệ, là chỗ để phát triển những cơ quan tạo máu (tủy xương đỏ), là kho dự trữ của những chất vô cơ cũng như hữu cơ, tham gia vào những quá trình trao đổi chất và sinh học trong cơ thể.

Bộ xương chó cấu trúc từ 247 xương và 262 khớp. Cột sống bao gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 đốt sống thắt lưng, 3 đốt sống khum, 20 – 23 đốt sống đuôi (một vài loài chỉ có 5 – 6 đốt sống đuôi, thường được gọi là chó cộc đuôi). Chó có 13 đôi xương sườn.

 Hinh 1: Bộ xương của chó
1- Phần mặt (facies); 2- Phần sọ (cránium); 3. Đốt sống cổ đầu tiên (átlas); 4. Những đốt sống cổ (vértebrae cervicáles; 5- Những đốt sống ngực (vértebrae thoracáles); 6- Những đốt sống hông (vértebrae lumbáles); 7- Những đốt sống đuôi (vértebrae coccugéae); 8- Xương chậu (os coxae); 9- Khớp chậu đùi (articulatio coxa); 10- Xương đùi (os fémoris); 11-Khớp đầu gối (articulatio genu); 12- Xương chày (tíbia); 13- Xương mác (fíbula) và xương chày (tíbia) làm thành xương cẳng chân (ossa cruris); 14- Xương gót chân (calcáneus); 15- Khớp cổ chân (articulatio calcáneus); 16- Khối xương cổ chân (ossa tarsi); 17- Khối xương bàn chân (ossa metatársi); 18- Khối xương ngón chân (dactylus); 19- Xương sườn (costa); 20- Xương ức (sternum); 21- Khối xương ngón tay (ossa digitorum); 22- Khối xương bàn tay (ossa metacárpi); 23- Khối xương cổ tay (ossa cárpi); 24- Xương trụ (ulna); 25- Xương quay (rádius) và xương trụ (ulna) tạo thành xương cẳng tay (ossa antebráchii); 26- Khớp khuỷu (articulatio cubiti); 27- Xương cánh tay (os bráchii); 28- Khớp bả vai cánh tay (articulatio humeri); 29- Xương bả vai (scápula).

Chân trước bắt đầu từ xương bả vai, xương cánh tay, xương cẳng tay (xương trụ và xương quay), xương cổ tay (có 7 xương nhỏ), xương bàn tay (có 5 xương), xương ngón tay (có 4 ngón 3 đốt, 1 ngón 2 đốt). Ở cuối những ngón chân là móng vuốt. Xương chân trước liên kết với các đốt sống không phải là khớp mà bằng những cơ chắc chắn. Phía trên xương bả vai là vây (u vai).

Chiều cao vây là chiều cao của chó và là một chỉ tiêu xác định giá trị giống của nó. Sự lệch với tiêu chuẩn: Cao hơn giới hạn trên và thấp hơn giới hạn dưới được coi là khuyết tật (là 1 trong những căn cứ để chấm điểm trong các cuộc thi, triển lãm về chó).

Xương chân sau bắt đầu từ xương chậu, xương đùi, xương cẳng chân, xương cổ chân (có 7 xương nhỏ), xương bàn chân có 4 hoặc 5 xương, xương ngón chân có 4 xương, đôi khi mặt trong từ nửa trên xương bàn có 1 ngón bất toàn (huyền đề) - không phải ở cá thể nào cũng liên kết với khối xương bàn chân. Ở nước ngoài, người ta coi nó như một hiện tượng không mong muốn, có thể cắt bỏ nó khi chó còn non. Ở nước ta, một số người quan niệm những ngón bất toàn ở chó có khả năng mang lại những cơ hội may mắn cho chủ nhân của những con chó đó. Trong dân gian còn lưu truyền câu ca dao: Dù ai buôn bán trăm nghề, không bằng nuôi chó huyền đề 4 chân.

Xương chân sau có một khớp nối với xương chậu (ổ cối), được cố định bằng các cơ của
nhóm cơ chậu đùi.

2. Hệ thống cơ
Hệ thống cơ đóng vai trò quan trọng trong ngoại hình và mô hình hóa một cách nổi bật cơ thể chó. Trong các tiêu chuẩn đánh giá vẻ đẹp của chó, hệ cơ đóng vai trò chủ yếu. Để chó có thân hình cân đối, hệ cơ cần được phát triển tốt, không có những dấu hiệu của sự quá béo hay quá gầy.

Các cơ của chó rất ít gân. Sự linh động của các nhóm cơ và những khúc cong của cơ thể là những nét đặc biệt để phân biệt, chấm điểm chó khi chọn giống hay trong các cuộc thi. Với mục đích bảo toàn năng lượng của cơ, chó thường ít đứng mà thích nằm nhiều hơn, chúng sẵn sàng nằm và chờ đợi khi chẳng có việc gì bắt buộc phải đứng.

3. Hệ thống da
Hệ thống da có 3 lớp: Biểu bì (epiderme), chân bì (derme), mô liên kết dưới da (hypoderme). Ở chân bì có nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn, tuyến thơm, mao quản, đầu mút thần kinh. Từ da đi ra những bó lông, cùng chung một bao lông. Mỗi bó riêng biệt có 3 (hay nhiều hơn) lông dài và to, 6 – 12 lông nhỏ và mềm, tất cả tạo thành lớp che phủ dầy và ấm cho chó về mùa đông, nhưng cũng thật sự phiền toái cho chúng khi mùa hè đến. Ở nước ta, những giống chó nhiều lông ngoại nhập thường trở nên cáu bẳn, bức xúc vào những ngày nóng nực, cần có chế độ tắm chải hợp lý hay cắt lông vào mùa hè cho chúng.

Vào mùa đông, người ta ít quan sát thấy chó thay lông. Mùa xuân đến chó thường thay lông.

Mùa hè sự thay lông của chó thường kết thúc, không quan sát thấy lông con ở chúng. Mùa thu lông bắt đầu mọc nhiều hơn. Hầu như tất cả cơ thể của chó được bao bọc bởi lớp lông dầy (ngoại trừ gương mũi, đệm ngón chân, bao dịch hoàn của con đực, âm hộ của con cái). Phía trên mắt, trên gò má, thái dương và ở môi trên phân bố một số lông dài hơn và rất cứng.

Tuyến mồ hôi của chó chỉ có ở phía cuối của 4 chân, từ đó tiết ra mồ hôi. Sự tiết mồ hôi của chó không có ở trên tất cả bề mặt da. Vì vậy, sự chênh lệch nhiệt độ cơ thể được điều chỉnh bằng đường hô hấp (phổi) là chính và nhờ vào sự bốc hơi của dịch niêm mạc và nước bọt. Những ngày oi bức, chúng ta quan sát thấy chó thường há miệng, thè lưỡi ra và thở rất nhiều để tăng cường sự thải nhiệt cho cơ thể. Lúc này cần thiết phải cho chó ăn thức ăn loãng và uống nước đầy đủ.

4. Những nét ngoại hình của chó
Để mô tả những nét ngoại hình của chó, người ta dùng các từ để chỉ các phần như sau:

Mõm, môi, cánh mũi, sống mũi, gò má, quãng gấp giữa mõm và trán, trán, mắt, gò trên mi, lông mày, đỉnh, gò chẩm, tai, cổ, mào cổ, họng, ngực, phần trước ngực, u vai, lưng, sườn, thắt lưng, hông, bụng, bẹn, mỏm hông xương cánh chậu, mông, đùi, đuôi, đầu gối, cẳng chân, cổ chân, bàn chân, bàn tay, ngón chân, ngón tay, cẳng tay, khuỷu, cánh tay, khớp bả vai - cánh tay, bả vai, họng.

Hình 1-2: Các phần cơ thể của chó
1- Sọ; 2- Thóp; 3- Tai; 4- Lồi cầu chẩm; 5- Cổ; 6- Mào cổ; 7- Vây (U vai); 8- Lưng; 9- Thắt lưng; 10- Mông; 11- Mỏm hông xương cánh chậu; 12- Đuôi; 13- Mông; 14- Đầu gối; 15- Cẳng chân; 16- Khớp cổ chân; 17- Bàn chân; 18- Ngón chân sau; 19- Bẹn; 20- Bụng; 21- Ngực; 22- Ngón tay ; 23- Bàn tay; 24- Cổ tay; 25- Cẳng tay; 26- Khuỷu; 27- Khớp bả vai-cánh tay (trước bả vai); 28- Trước ngực; 29- Bả vai; 30- Họng; 31- Mõm; 32- Cánh mũi; 33- Sống mũi; 34- Gò má; 35- Đoạn chuyển giữa mõm và trán; 36- Mắt; 37- Cung trên lông mày; 38- Trán.

5. Những dẫn liệu sinh lý lâm sàng cơ bản
- Thân nhiệt (oC)
      Chó nhỏ 37,5 – 39,0.
      Chó lớn 37,5 – 39,0.

- Mạch đập trong trạng thái yên tĩnh (số lần/ 1 phút)
      Chó nhỏ 100 – 130.
      Chó lớn 70 – 100.

- Nhịp thở của chó trong trạng thái yên tĩnh (số lần/ 1 phút)
      Chó nhỏ 18 – 26.
      Chó lớn 14 – 22.

- Tương quan giữa hít vào và thở ra: 1/1,6.

6. Sự làm việc của tim và tuần hoàn máu 
Xung động của mỏm tim tới gian sườn thứ 4 – 6, 1/3 dưới của lồng ngực, gần với rìa của xương ức (sternum).

Xung động của đáy tim về phía bên trái của cơ thể vào khoảng giữa gian sườn thứ 4 – 6, giới hạn trên là khớp bán động của xương sườn ở gian sườn thứ 6, theo hướng xuống dưới đi vào vùng gõ của gan.

Dung lượng máu khi tim co là 14ml/ 10 kg khối lượng cơ thể.

Dung lượng máu qua tim trong 1 phút là 1450 ml (khi tần số mạch đập khoảng 100
lần/phút).

Thời gian tuần hoàn máu là 16,7 giây.

Huyết áp: 104 – 172 mmHg

Điện tâm đồ của chó khỏe
       - Độ dài của 1 chu kỳ 0,582 giây.
       - Kỳ tâm thu (Q – T) 0,193 giây.
       - Kỳ tâm trương (T – Q) 0,389 giây.
       - Tương quan kỳ tâm trương/ kỳ tâm thu 2,01.
       - Thời gian chuyển tiếp xung động (P – Q) 0,1(giây).
       - Quãng nghỉ (T – P) 0,289 (giây).

7. Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu
- Tỷ trọng: 1,051 – 1,062.
- pH: 7,32 – 7,68.
- Thời gian đông máu (phút): 4 – 8.
- Khối lượng máu (%/ khối lượng cơ thể): 5,6 – 13,0.
- Tỷ khối hồng cầu (%): 50,4.
- Fibrinogen (mg%): 0,58.
- Sức kháng của hồng cầu trong dung dịch NaCl (%)
        + Tối thiểu: 0,50 – 0,58.
        + Tối đa: 0,40 – 0,46.
        + Trung bình: 0,42 – 0,58.
- Tốc độ huyết trầm (mm)
        + Thời điểm 30 phút: 1.
        + Thời điểm 1 giờ: 2.
        + Thời điểm 2 giờ: 4.
        + Thời điểm 24 giờ: 15.
- Hàm lượng đường tổng số (%): 0,09 – 0,11.
- Hàm lượng đường trong 100ml máu (mg): 60 – 87.

Thành phần tế bào máu
- Hồng cầu (triệu/mm3): 5,5 – 8,5.
- Hàm lượng hemoglobin (đơn vị Sali): 60 – 80.
- Tiểu cầu (nghìn/mm3): 200 – 600.
- Bạch cầu (nghìn/mm3): 8 – 18 (trung bình 12).
- Công thức bạch cầu (%)
         + BC ái kiềm 1 ( 0 – 2).
         + BC ái toan 3 (2 – 4).
         + BC đa nhân trung tính 74 (60 – 82).
         + BC đa nhân lớn 0,1 ( 0 – 0,3).
         + Limpho cầu 22 (13 – 32).

Những thành phần khác của máu (mg%)
- Canxi (giống chó lớn): 12,28 (12,02 – 12,54).
- Canxi (giống chó nhỏ): 8,37 (7,6 – 9,9).
- Natri: 331,3 (295,0 – 360,0).
- Kali: 20,32 (16,7 – 27,87).
- Magie: 1,7 – 2,9.
- Protein: 5,5 – 7,0.
       + Albumin (%): 33 – 56.
       + Globulin (%): 44 – 67.
- U rê: 15 – 40.
- Nitơ dư: 15 – 45.
- Phốt pho vô cơ: 2,5 – 5,0.
- Clorua: 350 – 410.
- Dự trữ kiềm: 50 – 60.

8. Những dẫn liệu về sinh lý tiêu hóa 
Nước bọt: Nước bọt đóng vai trò to lớn trong việc tiêu hóa của chó, nó là chất tiết của những tuyến nước bọt đổ và xoang miệng. Trong vòng một ngày đêm ở những con chó lớn có thể tạo thành 1,5 lít nước bọt. Sự tiết nước bọt của chó là thường xuyên. Nó tiết ra do hoạt động của 3 đôi tuyến nước bọt (gần tai, dưới hàm, dưới lưỡi) và những tuyến nước bọt nhỏ nằm trong niêm mạc xoang miệng. Tỷ trọng nước bọt của chó (1,005 – 1,008). Hàm lượng nước (98 – 99%), pH (7,56). Trong nước bọt có: Các thành phần vô cơ (các muối clorua, phốt phát, hydrocarbonat của kali, natri, canxi và magie, có dấu vết của sulfat và amoniac); các thành phần hữu cơ (albumin, globulin, muxin, amilaza, maltaza,... ). Ở chó có nét đặc biệt về sự hoạt động của lizosim trong nước bọt, nó có tính sát khuẩn mạnh. Sự liếm vết thương ở những động vật này có khả năng làm nhanh sự lành của vết thương.

Tiêu hóa ở dạ dày: Khối lượng dịch dạ dày ở chó dao động mạnh, phụ thuộc vào vào loại thức ăn và thành phần, thường trong khoảng 0,3 – 0,9 lít/1 lần tiếp nhận thức ăn. Dịch dạ dày có: Tỷ trọng (1,002 – 1,006), pH (0,8 – 1,0). Trong thành phần của dịch dạ dày gồm: Các chất hữu cơ (muxin, pepxin, kimozin, lipaza,...); chất vô cơ (axit clohydric, các muối clorua, phốt phát, sulfat của canxi, natri, kali, magie,...). Thời hạn lưu giữ thức ăn trong dạ dày không kéo dài, sự chuyển dịch của nó bắt đầu xảy ra ngay sau khi tiếp nhận thức ăn 0,5 – 1,0 giờ và kết thúc sau 6 – 8 giờ.

Tiêu hóa ở ruột: Độ dài ruột chó 2,3 – 7,3 mét (trung bình là 5 mét). Tương quan giữa độ dài thân với chiều dài của ruột là 1/5. Tốc độ dịch chuyển của thức ăn trong ống tiêu hóa là 7,7 cm/ giờ. Cặn bã được thải ra ngoài sau khi ăn 1,5 – 4 ngày. Dịch ruột để tiêu hóa được tiết ra trong giới hạn 100ml/ 1 ngày đêm, với pH (8,3). Phần vô cơ của dịch ruột có các muối: Clorua, carbonat, hydrocarbonat,... Phần hữu cơ của nó có: Muxin và các men erepxin, amilaza, lipaza,...

Tuyến tụy: Dịch tụy được tiết ra 1 – 35ml/ 1 ngày đêm, có tỷ trọng (1,006 – 1,010), hàm lượng nước (98 – 99%), pH (7,0 – 8,6). Phần vô cơ bao gồm các muối: Carbonat, hydrocarbonat của natri, canxi, kali và magie,... Những chất hữu cơ gồm: Albumin, globulin, muxin và các men (tripxin, erepxin, maltaza, lipaza,...).

Mật: Dịch mật đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Ở những con chó lớn nó được tiết ra tới 250ml/ 1 ngày đêm, với pH (5,33 – 7,08). Thành phần vô cơ là các muối clorua, carbonat, phốt phát, sulfat của magie, kali, canxi và sắt. Thành phần hữu cơ là các sắc tố mật,
colesterin và photphatit.

Sự bài tiết phân: Lượng phân được bài tiết khoảng 100 – 130 gam/ 1 ngày đêm. Phân chó có: Hàm lượng nước 65 – 85%, pH (6,7 – 8,4). Những con chó khỏe mạnh, thải ra phân thường có dạng khuôn. 

Nước tiểu: Lượng nước tiểu được tiết ra trong giới hạn 0,5 – 1,5 lít/ 1 ngày đêm ở những con chó lớn và 0,04 – 0,2 lít/ 1 ngày đêm ở những con chó nhỏ. Nước tiểu có tỷ trọng (1,016 – 1,060), pH (4,8 – 6,5). Sự bài tiết nước tiểu còn phụ thuộc vào loại thức ăn của chó.

9. Sinh lý thần kinh
Tất cả những quá trình của sự hoạt động sống xảy ra trong cơ thể chó, lúc bình thường cũng như khi mắc bệnh không khác với sinh lý của những động vật có xương sống khác. Chó cũng có các mô bào, những cơ quan và những hệ thống của cơ thể. Tuy nhiên, ở chó người ta đã ghi nhận được một số nét sinh lý đặc biệt. Sự khác biệt đó được thể hiện ở sinh lý sinh sản, hệ thống thần kinh trung ương hoàn chỉnh và hoạt động thần kinh cao cấp,... Tất cả những cái đó đã đưa con chó lên một vị trí đặc biệt trong các loại vật nuôi.

Hệ thống thần kinh trung ương thực hiện những chức năng quan trọng hàng đầu trong cơ thể. Trước tiên, nó đảm bảo hoàn toàn sự điều khiển tất cả những quá trình xảy ra trong cơ thể, sự phối hợp và liên kết giữa chúng, nhờ đó mà tất cả các hệ thống được hoạt động nhịp nhàng, chính xác. Tiếp theo, hệ thống thần kinh trung ương đảm bảo cho mối liên hệ của cơ thể với môi trường bên ngoài thay đổi thường xuyên. Những con chó có khả năng định hướng nhanh chóng trong hoàn cảnh xung quanh khác nhau. 

Hành vi của chó, trạng thái của nó gắn liền với loại hình xác định của hoạt động thần kinh cao cấp. Điều này được tính đến không những chỉ khi chó bị rối loạn hệ thống thần kinh mà còn được tính đến khi tổ chức khám-chữa bệnh cho chó.

Rõ ràng rằng, ngay cả trong những điều kiện bình thường, những con chó được phân biệttheo hành vi có những phản ứng rất khác nhau với những kích thích bên ngoài và quan hệ với người cũng không giống nhau.

Sự làm việc của bộ não xác định hành vi của động vật. Viện sĩ I.P. Pavlov khi tiến hành nghiên cứu, thí nghiệm ở chó đã xác định những loại hình hoạt động của hệ thần kinh cao cấp ở động vật và người. Học thuyết I.P. Pavlov về hoạt động của thần kinh cao cấp là phương pháp cơ bản khi chia động vật ra các typ, ở đó nhất định phải xem xét sức mạnh, sự điềm tĩnh và hoạt động của các quá trình hưng phấn và ức chế. Ông đã chia ra 4 loại hình hoạt động của hệ thống thần kinh.

a. Loại hình thứ nhất: mạnh, không cân bằng (choleric)
Chó có loại hình này thường nóng nảy, dễ xúc động, công kích, dữ dội. Chó có sự định hướng rất nhanh. Những phản xạ có điều kiện ở chúng được hình thành ngay lập tức và được phân biệt bằng sự trung thành. Trong những hoạt động quá căng thẳng của hệ thống thần kinh dễ dẫn đến loạn thần kinh chức năng.

b. Loại hình thứ hai: mạnh, cân bằng, linh hoạt (sanguinic)
Chó có loại hình thần kinh này phản xạ điềm tĩnh với môi trường xung quanh. Phản xạ có điều kiện ở chúng hình thành nhanh chóng và giữ rất lâu, vững chắc. Những quá trình hưng phấn và ức chế có độ mạnh và linh hoạt. Chó có đặc tính của những cá thể nhiệt huyết, sôi nổi. Loại chó này dễ huấn luyện, khả năng làm việc tốt, thường được gọi là những con chó khôn, quý.

c. Loại hình thứ 3: mạnh, cân bằng, ỳ (phlegmatic)
Chó có loại hình này thường lãnh đạm thờ ơ. Những quá trình hưng phấn và ức chế được phân biệt bằng độ mạnh tốt nhưng ít hoạt động. Tiếp nhận sự huấn luyện chậm, thiếu nhiệt tình trong công việc. Thường có tính ỷ lại.

d. Loại hình thứ 4: yếu ớt (melacolic)
Chó có loại hình này thường đa sầu, đa cảm. Những quá trình hưng phấn và ức chế yếu, thành lập phản xạ có điều kiện ở chúng rất khó. Những chó này rất nhát, thường đi vào huấn luyện một cách miễn cưỡng. Khi bị căng thẳng, ở chúng rất dễ dẫn đến sự rối loạn hoạt động của hệ thống thần kinh.

Để đánh giá chó, trong các cuộc triển lãm, thi hoa hậu, thi đấu thể thao, khi mua-bán chó, người ta thường dùng các từ: Dữ dội, hăng hái, thiếu hăng hái, dịu dàng, lãnh đạm; ngay cả: Khôn, dũng cảm, thẳng thắn, nham hiểm, giảo quyệt, hung ác, kích động; hay: Quý, tốt bụng, tin cậy, không tin tưởng, nhát gan,...

Người ta xác định rằng, những dẫn liệu thần kinh của chó khỏe mạnh khác với dẫn liệu khi chúng mắc bệnh, hoặc nghiêng về hưng phấn hoặc nghiêng về ức chế. Những con chó trở thành kích thích khi mắc bệnh ở đại não và màng não, bệnh dại, trúng độc,... Trạng thái ức chế được ghi nhận ở chó trong nhiều bệnh khác nhau: Tăng u rê huyết, viêm gan, tổn thương nhiệt và ánh sáng, các bệnh truyền nhiễm, khi mất máu nhiều,... Trạng thái ức chế của chó đôi khi còn phụ thuộc vào chứng đần độn bẩm sinh, thường liên quan đến sự phát triển sinh lý không đầy đủ, sự lùn và dị hình. Trạng thái này đặc trưng bằng sự thiếu hụt phản ứng với hoàn cảnh xung quanh và thể hiện ở dạng buồn ngủ, những trạng thái mơ màng, mơ ngủ.

10. Những dẫn liệu sinh học khác
Chó là một trong những loài động vật phổ biến trên thế giới, thêm vào đó nó có khuynh hướng đặc biệt sống giữa mọi người. Trong thức ăn đòi hỏi cả thức ăn có nguồn gốc động vật và thức ăn có nguồn gốc thực vật. Thính giác và khứu giác ở chó đặt tới sự hoàn chỉnh. Người ta phân biệt “đẳng cấp” của chó với các loại động vật khác chính bằng sự phát triển cao của các giác quan này. Thị giác ở chó phát triển kém hơn. Người ta cho rằng những con chó nhà có khả năng nhìn từ xa kém hơn so với người.

Chó có những đặc điểm: Thông minh lạ thường, trung thành và tin cậy đối với con người, đức tính hy sinh, gan dạ và dũng cảm, trí nhớ tốt, tính tình dịu dàng, thính giác rất nhạy bén, sự linh cảm phát triển cao. Có thể liệt kê được 7 đức tính của chó: Trung thành với chủ nhân; uy vũ không khuất phục; vật chất khó cám dỗ; hăng hái, tận tụy trong công việc; gan dạ và quả cảm; thủy chung với bạn bè; thù dai.

Chó là động vật đa thai, thông thường chó cái mang 4 – 5 thai và hơn nữa. Bản năng làm mẹ rất phát triển. Sự canh gác và bảo vệ, quan tâm đến con của nó có thể đặt tới sự hy sinh. Những con chó đực thì ngược lại, đối với thế hệ sau chúng thường lạnh nhạt, trong những trường hợp cá biệt có thể trở thành thù địch.

Sữa của những con chó cái có: Tỷ trọng (1,034), pH (6,0 – 6,4), hàm lượng vật chất khô (23%), protein tổng số (9,72 %), cazein (4,15%), albumin và globulin (5,57%), mỡ (9,25%), đường sữa (3,11% ) và tro (0,91%).

Nước mắt đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chức năng hoạt động của mắt. Nó làm ướt mắt, là dịch dinh dưỡng của mắt, và duy trì sự hằng định của môi trường quang học, đảm bảo cho hoạt động bình thường của thị lực. Trạng thái khô bề mặt ngoài của mắt và ngược lại sự chảy nước mắt không bình thường, chứng tỏ về bệnh lý không những chỉ ở tuyến lệ và cơ quan thị giác mà ngay cả ở những hệ thống và cơ quan khác của cơ thể. Trong thành phần của nước mắt có chất hoạt động lizosim, nhờ nó mà nước mắt cũng có tính sát khuẩn. Nước mắt làm vô hiệu hóa vi khuẩn và virus, thực hiện chức năng bảo vệ, ngăn cản hàng loạt các bệnh. Ngoài chức năng bảo vệ, nước mắt còn nuôi giác mạc (cung cấp chất dinh dưỡng cho nó và đưa những sản phẩm trao đổi chất đi). Qua giác mạc sự trao đổi khí với khí quyển cũng được thực hiện.

Chó còn có những đặc điểm sinh học đặc biệt khác: Nó có giấc ngủ tốt nhưng nhẹ nhàng với những giấc mơ gián đoạn, có khả năng ăn cỏ (như những động vật tự chữa bệnh cho mình) hay là có những tư thế, dáng điệu xác định trước những sự thay đổi của thời tiết. Những con chó nhất định phải ngửi nhau một cách cẩn thận, như là để làm quen với nhau. Nét đặc biệt đặc trưng của những động vật này là sự tài đánh hơi của những con đực phát hiện ra những con cái đang sắp có sự ham muốn tình dục.

11. Sự phát triển răng và cách xác định sự sinh trưởng của chó
Chó có khả năng sống tới 20 năm. Ở chúng có 42 răng (chia ra: 12 răng cửa, 4 răng nanh, 2 răng kép ở hàm dưới và 24 răng hàm). Tuy nhiên người ta cho rằng không phải ở mọi con chó đều có số lượng răng như thế. Những cá thể cá biệt có thể có số lượng răng ít hơn hoặc nhiều hơn thế.

Công thức răng được thể hiện: 6/6 - 2/2 - 8/8 - 4/6. Con số đầu tiên biểu thị răng cửa (R), số thứ 2 là răng nanh (C), số thứ 3 là răng hàm nhỏ (Rm), số cuối cùng là răng hàm vĩnh viễn (M).
Công thức răng thường có dạng viết số lượng răng của 1/2 của hàm: R (3/3) – C (1/1) – Rm (4/4) – M (2/3). Răng hàm được chia ra 12 răng ở hàm trên (6 về mỗi phía) và 14 răng ở hàm dưới (1 răng kép hay răng khểnh và 6 răng hoạt động về mỗi phía). 

Trong số răng hàm có 3 hoặc 4 răng ở phía trước phải thay răng, được gọi là răng hàm nhỏ, số còn lại là răng vĩnh viễn (thường xuyên) không có sự thay răng. Trong số các răng hàm có 4 răng ở hàm trên và 6 răng ở hàm dưới to nhất và đóng vai trò quan trọng trong việc nghiền thức ăn cứng.

Răng kép (hay răng khểnh) có 1 răng về mỗi phía ở hàm dưới, mọc giữa răng nanh và răng
hàm nhỏ đầu tiên, cũng không có sự thay răng. 

Răng nanh phải thay răng, với mức độ nào đó chúng có hình dạng của chiếc móc, ở những con chó lớn tuổi răng nanh thể hiện to hơn.

Răng cửa vĩnh cửu (thay thế cho những răng cửa sữa) có 6 chiếc ở mỗi hàm và phân bố đối xứng nhau. Chúng được chia ra: Răng cửa trước, răng cửa giữa và răng cửa bên.

Răng cửa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lứa tuổi của chó. Vấn đề là ở chỗ, thân của mỗi răng cửa đều lồi lên 3 mũi nhọn, chúng sẽ bị mài mòn và biến mất với thời gian. Những con chó con thì chưa mọc răng. Khi xác định lứa tuổi của chó người ta tính đến những dấu hiệu sau: Sự mọc lên của những răng sữa và sự mất đi của chúng, sự mọc các răng khôn và sự mòn dần rồi mất đi của chúng. Độ nhanh của sự mòn răng còn phụ thuộc vào sức khỏe của chó, sự mắc bệnh này hay bệnh khác, và ngay cả độ vững chắc của men răng.

Sự xuất hiện những răng khác nhau với chỉ tiêu sinh trưởng

Loại răng Tuần tuổi
Răng chưa mọc chiếc nào 3 – 4
Xuất hiện răng cửa 4 – 5
Mọc 2 răng hàm đầu tiên 4 – 6
Mọc răng hàm thứ 3 6 – 8
 

Tháng tuổi
Mọc răng kép hàm dưới 3 – 5
Mọc răng hàm thứ 4 4 – 5
Mọc răng hàm thứ 5 5 – 6
Mọc răng hàm thứ 6 6 – 7

 

Sự thay răng, mòn răng theo lứa tuổi
Sự thay răng sữa Tháng tuổi
Răng cửa trước 2 – 4
Răng cửa giữa 3 – 5
Răng cửa cạnh 4 – 6
Răng nanh 4 – 5

 

Sự mòn răng khôn Năm tuổi
Răng cửa với đầy đủ 3 gai nhọn 1
Răng cửa trước mất gai nhọn 2
Răng cửa giữa mất gai nhọn 4 – 5
Răng cửa cạnh mất gai nhọn, thân răng mòn 10 – 12
 

Sự nghiêng lệch hay dị dạng của răng thường xảy ra. Trong những trường hợp như thế những răng khôn không mọc được ở chính chỗ của mình mà ở chỗ khác vì răng sữa vẫn còn đó. Những răng mọc lệch chỉ được chỉnh lại khi nhổ răng sữa đi. Đôi khi quan sát được sự phân bố răng không đối xứng, ngay cả có chỗ thiếu răng. Những trường hợp như thế thường gặp ở những con chó mắc bệnh còi xương hay các bệnh nặng khác.

Những con chó về già xuất hiện xỉ vôi (chất cặn ngưng đọng) bám quanh răng. Hiện tượng như thế dẫn đến tình trạng xỉn màu răng, viêm lợi rồi lung lay và rụng răng.
 

Răng cửa trước cả hàm trên và hàm dưới rụng 12 năm tuổi.
 

Tất cả răng hàm trước rụng 16 năm tuổi.
 

Những con chó quá già thường rụng hết răng và lông.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2001). Sinh sản gia súc./ Nhà xuất bản
Nông nghiêp.// Hà Nội.
2. Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996). Sinh lý học gia
súc./ Nhà xuất bản Nông nghiệp.// Hà Nội.
3. Phạm Xuân Vân (1982). Giáo trình Giải phẫu gia súc./ Nhà xuất bản Nông nghiệp.// Hà Nội.
4. Beliakov I.M., V.A. Lukianovxki và các tác giả (1996). Bệnh của chó./ Nhà xuất bản “Niva
Ratxii”.// Cộng hoà Liên bang Nga.
5. Lukianovxki V.A., I.M. Beliakov và các tác giả khác (1998). Chữa bệnh cho chó./ Nhà xuất bản
“Niva Ratxii”.// Cộng hoà Liên bang Nga.
6. Morgan R.V. (1997). Sổ tay thực hành động vật nhỏ./ Nhà xuất bản W.B. Saunders.
Philadelphia.// U.S.A.
7. Preston Hoskins H., J.V. Lacroix, Karl Mayer (1966). Bệnh của chó./ Nhà xuất bản American
Veterinary Publications.// U.S.A.
8. Slatter D.H. (1985). Ngoại khoa động vật nhỏ./ Nhà xuất bản W.B. Saunders Compani.
Philadelphia.// U.S.A.

Sưu Tầm: http://vetbookshop.blogspot.com 

Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Thú Y

Written By Chăn Nuôi on Thursday, May 30, 2013 | 8:24 AM

Một số lượng các test XN đã được sử dụng để xác định tình trạng sức khỏe tốt hay báo hiệu sự nhiễm bệnh hay tình trạng bệnh. Sau đây là các test chủ yếu và một số thuật ngữ phổ biến sử dụng trong phòng thí nghiệm. Một sự phân tích máu đầy đủ [A Complete Blood Count] chỉ định được số lượng và loại của các tế bào trong máu chó. Test tiêu chuẩn này có thể phát hiện tình trạng thiếu máu và bệnh ung thư bạch cầu [to identify anemia and leukemia], cũng như phát hiện các trường hợp nhiễm trùng. Một bảng tổng hợp phân tích thành phần hóa học huyết thanh [A Serum Chemistry Profile] bao gồm nhiều test khảo sát chức năng của các cơ quan [to examine the functioning of organs], như gan và tuyến giáp [thyroid], và các test này sẽ cho thấy một sự bất thường nào đó của cơ quan nội tạng.


RBC (= Red Blood Cells – Các tế bào hồng cầu)
RBC có nhiệm vụ vận chuyển O2 và CO2 khắp cơ thể. Thiếu chất sắt [Iron deficiency] sẽ làm giảm số lượng hồng cầu.
Trong tình trạng số lượng hồng cầu giảm nhiều hơn [In more reduced count], có thể do xuất huyết, các loại ký sinh trùng, bệnh tủy xương [bone marrow disease], thiếu B-12, thiếu acid folic hay thiếu chất Cu..
RBC có đời sống kéo dài 120 ngày; do vậy, một tình trạng thiếu máu có nguyên nhân khác hơn xuất huyết, thường là một biểu hiện tình trạng giảm hồng cầu trong thời gian dài.


HTC (= Hematocrit or Packed Cell Volume [PCV] – Xét nghiêm đo lắng máu hay khối lượng hồng cầu kết tủa)
HCT cung cấp thông tin về số lượng hồng cầu hiện diện trong máu.
Tỷ lệ này thấp chứng tỏ thiếu máu do xuất huyết, các ký sinh trùng, các bệnh thiếu dinh dưỡng [nutritional deficiencies] hay quá trình bệnh mạn tính [chronic disease process], như bệnh gan, ung thư, vv.
HCT tăng thường gặp khi thú mất nước.


Hb (= Hemoglobin – Huyết cầu tố)
Hb là chất mang O2 chủ yếu của máu.
Hàm lượng Hb thấp chứng tỏ có sự xuất huyết, thiếu máu, thiếu chất sắt.
Hàm lượng Hb tăng chứng tỏ HHC tập trung cao hơn bình thường, thiếu B-12 (do số lượng HHC ít hơn).


Reticulocytes (= Hồng cầu lưới, các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành [immature red blood cells])
Số lượng giảm [Decreased count] thường kết hợp với thiếu máu .
Số lượng tăng thường kết hợp với tình trạng xuất huyết mạn tính hay thiếu máu tiêu hồng cầu. [hemolytic anemia].


PLT (= Platelets – Tiểu cầu)
Tiểu cầu đóng một vai trò quan trọng trong đông máu.
Số lượng giảm xảy ra trong chứng suy tủy xương [bone marrow depression], thiếu máu tiêu hồng cầu tự miễn [autoimmune hemolytic anemia], ngoại ban toàn thân [systemic lupus], xuất huyết nặng [severe hemorrhage], đông máu nội mạch [intravascular coagulation].
Số lượng tăng có thể xảy ra trong trường hợp gảy xương [fracture] hay tổn thương mạch máu [blood vessel injury], hay ung thư.


MCV (= Measurement of the average size of the RBC – Đánh giá kích thước bình quân của hồng cầu)
Khối lượng tăng [Elevated volumes] có thể do thiếu B-12 acid folic [B-12 folic acid deficiency].
Khối lượng giảm [Reduced volumes] có thể do một tình trạng thiếu chất sắt [an iron deficiency].


WBC
(= White blood cells – Bạch huyết cầu)
Bạch huyết cầu chủ yếu bảo vệ cơ thể chống sự nhiễm trùng.
Mức độ WBC giảm [Decreased levels] có thể chứng tỏ một tình trạng nhiễm trùng vượt quá mức kháng cự của cơ thể [an overwhelming infection] như trường hợp nhiễm virus, hay ngộ độc thuốc / hóa chất [drug / chemical poisoning].
Mức độ WBC tăng chứng tỏ nhiễm vi khuẩn [bacterial infection], các tình trạng rối loạn cảm xúc [emotional upsets] và các bệnh gây rối loạn máu [blood disorders].


L/M (= Lymphocytes – Lymphô bào, bạch cầu lymphô).
Số lượng tăng trong bệnh mạn tính [chronic infection], bệnh nhiễm trùng cấp trong thời kỳ phục hồi [recovery from acute infection] hay các hạch có chức năng kém [underactive glands].
Số lượng giảm trong trường hợp thú bị stress, hay khi điều trị với steroid và hóa trị liệu [chemotherapy drug].


Ca
(= Calcium – Hàm lượng Ca trong máu bị ảnh hưởng bởi khẩu phần [diet], nồng độ hormone [hormone levels], và hàm lượng prôtêin trong máu [blood protein levels]).
Hàm lượng Ca giảm chứng tỏ tuyến tụy bị tổn thương cấp tính [acute damage to the pancreas] hay tuyến cận giáp hoạt động kém [underactive parathyroid]; và có thể gây các cơ co giật [muscle twitches].
Hàm lượng Ca tăng có thể là một dấu hiệu [an indicator] của một vài loại khối u [types of tumours], bệnh cận giáp hay bệnh thận [parathyroid or kidney disease].
Theo Dr. Goldstein trong tác phẩm ‘Nature of Animal Healing’ của ông, hàm lượng Ca giảm có thể chứng tỏ tình trạng thiếu enzym của tuyến tụy [deficiency of pancreatic enzymes]; và hàm lượng Ca tăng có thể chứng tỏ sự chuyển hóa chất béo và prôtêin kém [poor metabolism of fats and protein].


PHOS (= Phosphorus – Hàm lượng P trong máu bị ảnh hưởng bởi khẩu phần [diet], hormon cận giáp [parathormone], và thận).
Hàm lượng P giảm biểu hiện tuyến cận giáp hoạt động quá mức [overactive parathyroid gland] và các khối u ác tính [malignancies], tình trạng thiếu dinh dưỡng [malnutrition] và chứng kém hấp thu [malabsorption].
Hàm lượng P tăng biểu hiện tuyến cận giáp hoạt động kém [underactive parathyroid gland] và suy thận [kidney failure].


Electrolytes (= Sodium, Potassium, Chloride – Các chất điện giải như natri, kali, clorua).
Sự cân bằng của các hóa chất này rất cần thiết cho sức khỏe [to be vital to health]; và các hàm lượng bất thường [abnormal levels] có thể đe dọa đến tính mạng [to be life threatening] của thú.
Các test về chất điện giải là các xét nghiệm quan trọng nhằm đánh giá tình trạng nôn mửa, tiêu chảy và các triệu chứng bệnh tim [cardiac symptoms].


CHOL (= Cholesterol )
Hàm lượng CHOL giảm thường gặp trong trường hợp tuyến giáp hoạt động quá mức [overactive thyroid gland], sự kém hấp thu dinh dưỡng ở ruột [intestinal malabsorption].
Hàm lượng CHOL tăng được tìm thấy trong nhiều trường hợp rối loạn bao gồm chứng giảm chức năng tuyến giáp [hypothyroidism] và các bệnh về gan, thận, tim mạch, bệnh tiểu tháo đường [diabetes], stress.


ALT (= Alanine aminotransferase ) là một loại enzym có hàm lượng cao trong bệnh gan [liver disease].

ALKP (= Alkaline Phosphatase ) là một loại enzyme tạo bỡi ống mật trong gan [the biliary tract (liver)].
Hàm lượng ALKP cao biểu hiện bệnh xương [bone disease], bệnh gan hay tình trạng tắt nghẽn tiết mật [bile flow blockage].


TBIL (= Total Bilirubin – Tổng sắc tố mật ) là một thành phần của mật; sắc tố mật được tiết từ gan vào ống tiêu hóa [intestinal tract].
Hàm lượng TBIL cao có thể dẫn đến bệnh hoàng đản [jaundice] và chứng tỏ có sự hủy hoại trong gan và ống mật [destruction in the liver and bile duct].


TP
(= Total Protein – Tổng prôtêin )
Hàm lượng TP tăng chứng tỏ tình trạng mất nước [dehydration] hay ung thư máu [blood cancer], ung thư tủy xương [bone marrow cancer].
Hàm lượng TP giảm chứng tỏ tình trạng thiếu dinh dưỡng [malnutrition] tiêu hóa kém [poor digestion], bệnh gan hay bệnh thận, trường hợp mất máu hay bị phỏng [bleeding or burns].


GLOB (= Globulins )
Hàm lượng GLOB giảm cho thấy có vấn đề về kháng thể, các virus gây suy yếu miễn dịch [immunodeficiency viruses] hay nguy cơ bệnh nhiễm trùng [risk of infectious disease].
Hàm lượng GLOB tăng có thể chứng tỏ tình trạng stress, mất nước hay ung thư máu, dị ứng [allergies], bệnh gan, bệnh tim, viêm khớp [arthritis], bệnh đái tháo đường.


ALB (= Albumin ) được sản xuất bởi gan.
Hàm lượng ALB giảm có thể do bệnh gan hay thận mạn tính [chronic liver or kidney disease], hay do nhiễm ký sinh trùng như giun móc [parasitic infections such as hookworm].
Hàm lượng ALB tăng chứng tỏ tình trạng mất nước hay mất prôtêin [dehydration and loss of protein].


BUN (= Blood Urea Nitrogen ) được sản xuất bởi gan và được bài tiết bởi thận.
Hàm lượng BUN giảm gặp trong trường hợp các khẩu phần kém prôtêin [low protein diets], chức năng gan hoạt động kém [liver insufficiency], và sự sử dụng thuốc steroid đồng hoá [anabolic steroid drug].
Hàm lượng BUN tăng chứng tỏ tình trạng giảm khả năng lọc các dịch thể của thận hay cản trở sự phân hủy prôtêin [ protein breakdown].


CREA (= Creatinine ) là một sản phẩm phụ của biến dưỡng cơ và được bài tiết bởi thận.
Hàm lượng cao có thể chứng tỏ bệnh thận hay tình trạng tắc nghẽn đường tiểu [urinary obstruction], bệnh cơ, viêm khớp, chứng cường giáp [Hyperthyroidism] và chứng đái tháo đường [diabetes]
Tình trạng hàm lượng BUN tăng và CREA bình thường chứng tỏ tình trạng bệnh mới bắt đầu hay bệnh nhẹ.
Tình trạng hàm lượng BUN tăng và CREA tăng với hàm lượng Phốt-pho cao chứng tỏ tình trạng thận đã bị bệnh lâu dài [a long standing kidney disease]. 

GLU (= Blood Glucose )
Hàm lượng cao có thể giúp chẩn đoán bệnh đái tháo đường và có thể chứng tỏ tình trạng stress, kích thích tố Progesterone dư thừa [excess of hormone progesterone], và tình trạng tuyến thượng thận hoạt động quá mức [overactive adrenal gland]
Hàm lượng thấp có thể chứng tỏ bệnh gan, các khối u hay tuyến tụy tăng trưởng bất thường, và một tình trạng tuyến thượng thận hoạt động kém [an underactive adrenal gland]. 

AMYL (= Amylase )
Tuyến tụy sản xuất và tiết amylase giúp sự tiêu hoá.
Hàm lượng cao trong máu có chứng tỏ bệnh tuyến tụy và/hay bệnh thận.


PHÂN TÍCH NƯỚC TIỂU [Urinalysis]
- Màu sắc: Bình thường có màu vàng đến màu cánh dán. Màu đỏ là do có máu, màu vàng đậm đến màu vàng nâu là do có bilirubin; màu nâu đỏ nhạt là do huyết sắc tố [hemoglobin] hay sắc tố cơ [myoglobin].
- Độ trong suốt: Bình thường nước tiểu trong suốt. Nước tiểu vẩn đục là do các vật thể trong suốt [crystals], các tế bào, máu, chất nhày, vi trùng hay chất loại thải [cast].
- Tỷ trọng: Tỷ trọng từ 1.007-1.029 tìm thấy trong bệnh đái tháo đường [diabetes mellitus], bệnh đái tháo nhạt [nước tiểu loãng và nhiều – insipidus],.tuyến thượng thận hoạt động quá mức [overactive adrenals], thú quá khát [excessive thirst] và viêm mủ tử cung [pyometra]. Tỷ trọng trên 1.040 tìm thấy khi thú sốt cao, mất nước, đái tháo đường [diabetes mellitus], nôn mửa, tiêu chảy và xuất huyết nặng.
- Độ pH: Bình thường từ 6.2 – 6.5 hơi nghiêng về acid


GHI CHÚ
- Khi bạn làm xét nghiệm máu, bạn phải chắc rằng con thú của bạn đã được cho nhịn ăn ít nhất là 12 giờ trước khi làm các xét nghiệm.
- Có một vài khác biệt về thành phần hóa học trong kết quả xét nghiệm giữa các giống.
- Bạn nên thiết lập một số chỉ tiêu bình thường về con thú của bạn. Vì cơ thể của từng thú cũng có sự khác biệt; nên sự bất thường trong kết quả xét nghiệm cũng có thể là bình thường đối với con thú của bạn.

Tầm Quan Trọng Của Việc Chẩn Đoán Bệnh Thú Y

Written By Chăn Nuôi on Friday, April 12, 2013 | 5:06 AM

      Giả sử khi bị bệnh ta đều đến bệnh viện, rồi bác sĩ sẽ hỏi ta đau ở đâu? Rồi sẽ xác định là loại bệnh phát sinh từ bên trong cơ thể ( liên quan tới tế bào) hay bị cảm nhiễm từ bên ngoài ( vi khuẩn hay virut). Và hỏi môi trường sống và thói quen sinh hoạt.

        Sau khi làm các thủ tục trên, và sau đó tiến hành các bước kiểm tra như mẫu máu hoặc nước tiểu, siêu âm, chiếu X quang, CT, MRI để tìm nguyên nhân gây  bệnh. Sau khi chẩn đoán được bệnh mới kê toa thuốc hoặc phẩu thuật hoặc thay đổi thói quen sống và sinh hoạt, và liên tục theo dõi tới khi khỏi bệnh ( dĩ nhiên nếu người bệnh còn đau thì họ phải tiếp tục đến bệnh viện). Tuy kiểm tra kỹ lưỡng như vậy như cũng có nhiều trường hợp vẫn không phát hiện chính xác ra bệnh. Một bác sĩ nội khoa nổi tiếng của Nhật Bản sau khi nghĩ hưu cho biết “ số lượng người bệnh được tôi chẩn đoán và điều trị chính xác chỉ chiếm khoảng 30% ( dựa vào lời kể khi khám lại của người được điều trị)”.

        Chính vì vậy khi chỉ nhìn vào triệu chứng lâm sàng ( biểu hiện bệnh) ta phải tìm nguyên nhân từ thiết bị hay môi trường nuôi dưỡng? mất cân bằng dinh dưỡng? hoặc cảm nhiễm từ bên ngoài ( vi khuẩn hay virut). Cho dù khám kĩ nhưng những người trong ngành chăn nuôi thường chẩn đoán đơn giản như bị tiêu chảy, bị tiêu hóa, ho hoặc nếu sốt cao thở gấp thì cho là bị bệnh hô hấp. Nên cho dù tìm ra nguyên nhân gây bệnh thì họ thưòng cho sử dụng kháng sinh. Hoặc nếu tốt hơn một chút họ cho sử dụng các loại thuốc hỗ trợ điều trị như thuốc hạ sốt, kháng viêm,chế phẩm sinh học, vitamin, enzyme… tuy bệnh có đỡ hơn nhưng vẫn sử dụng kháng sinh, coi kháng sinh là thần dược.

        Tuy nhiên, các bệnh của heo không đơn giản như vậy. Dĩ nhiên so với người thì tuổi thọ gia súc ngắn hơn nên các bệnh do chức năng tế bào không thường xuyên xảy ra. Chủ yếu là các loại bệnh cảm nhiễm do nuôi trong bầy, do thiết bị và môi trường sống, kỹ thuật quản lý nuôi dưỡng còn thiếu sót ( vệ sinh….). Các loại bệnh cảm nhiễm khác như tấn công hệ miễn dịch tạo cơ hội cho các vi khuẩn thứ cấp khác tấn công. Tiêu biểu cho các loại bệnh này mà chúng ta đều biết rõ là PRRS (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản), PCVAD ( các bệnh liên quan tới Circovirut), SIV ( cúm heo).


Virut cũng thay đổi để tồn tại.

        Gần đây khi đi tư vấn các trại người viết nhận thấy nhiều nông trại thường có những hiểu biết sai về PRRS. Không biết từ khi nào đa số các bác sĩ thú y khi mở miệng ra là chẩn đoán là PRRS  rồi phòng ngừa bằng vacxin nhưng không có hiệu quả.

        Về bệnh PCVAD, may mắn là vacxin Circo có hiệu quả tốt giảm rất nhiều thiệt hại cho các nông trại.

        Tuy nhiên PRRS là bệnh không thể xem thường. Gần đây trong các hội thảo quốc tế cho rằng PRRS là một trong những loại bệnh cần phải cẩn thận nhất. Là loại bệnh mà các trại heo phải hết sức tránh. Trong quá khứ các trại thường áp dụng biện pháp phòng dịch riêng cho trại mình. Hiện nay, tiến hành phương pháp tận diệt PRRS theo từng khu vực ( ở Mỹ là theo từng bang) hoặc từng quốc gia. Năm 2007, Chi Lê đã áp dụng chính sách tận diệt PRRS trên toàn quốc đã thu được thành công rất lớn và ở đây năng suất đã lên rất cao.

        PRRS hiện nay đã thay đổi rất nhiều, mỗi năm độc lực ngày càng gia tăng. Dĩ nhiên không chỉ PRRS mà đa số các loại virut ( đặc biệt RNA) và các loại vi khuẩn không ngừng thay đổi và có độc lực rất đa dạng. Nhưng loại bệnh gây hại lớn nhất cho heo ( trực tiếp hoặc giảm năng suất) chính là PRRS.

        Gần đây theo các nhà nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu thì với sự nóng lên của trái đất thì các loại bệnh cũng thay đổi rất đa dạng và độc lực có xu hướng gia tăng. Ngay cả virut cúm mà con người gần nhưng biết rõ nhất cũng hay đổi rất nhiều. Mỗi năm ta phải chích lại vacxin ngừa cúm ( mỗi năm mỗi loại kháng nguyên khác nhau) cho dù nó là loại bệnh đã xuất hiện từ nhiều thế kỉ trước.

        Nói như vậy để chúng ta thấy rằng các nguyên nhân gây bệnh cũng biến hóa rất nhiều trước sự hay đổi của môi trường. Vì vậy chúng ta phải tìm hiểu chính xác để tìm ra phương pháp xử lý triệt để.


Chẩn đoán bệnh cho heo như thế nào?

         Như đã nói ở trên việc cần thiết là phải tìm ra nguyên nhân chính xác gây bệnh. Tuy nhiên trong nhiều nguyên nhân việc tìm ra nguyên nhân chủ yếu không phải là việc dễ dàng.

Đa số các trang trại khi phát sinh ra bệnh thì những người có kinh nghiệm hoặc bác sĩ thú y sẽ xem xét môi trường xung quanh và triệu chứng lâm sàng để bước đầu điều trị. Đổi vaxin hay sử dụng kháng sinh khác mà các triệu chứng bệnh vẫn không giảm thì bắt đầu tìm đến chuyên gia ( về môi trường , thiết bị hay bác sĩ thú y chuyên về heo)

        Các chuyên gia này sẽ đánh giá tổng thể lại tình hình trại. Họ sẽ kiểm tra xem xét các thiết bị, điều kiện dinh dưỡng, nuôi dưỡng, trình độ người quản lý, hệ thống phòng dịch, tình hình vệ sinh.

        Và họ sẽ đánh giá tình hình dịch bệnh, khả năng lây nhiễm và độc lực ( tỷ lệ chết). Tiến hành giải phẫu xác heo chết hoặc tiến hành lấy các mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm. Nếu tiến hành các bước trên chỉ một lần mà xác định ra nguyên nhân gây bệnh thì rất tốt.

        Thế nhưng những trường hợp như vậy rất hiếm gặp.  Đa số khi kiểm tra heo thường có các triệu chứng nhiễm thêm vi khuẩn thứ phát, viêm đa thanh dịch ( bệnh glasser), xuất huyết tiểu phế quản ( tụ huyết trùng, viêm phổi…), rối loạn tiêu hóa ( viêm ruột kết, coccidium, PED…).Khi xem xét các triệu chứng trên phải chẩn đoán bệnh, nếu kết quả kiểm tra phòng thí nghiệm đúng với nguyên nhân nghi ngờ thì mới xong được bước đầu của quy trình khám bệnh.

Thế nhưng việc kiểm tra ở trại rất hạn chế chỉ kiểm tra một số lượng nhỏ cá thể mà phải chẩn đoán cho toàn đoàn là một việc rất nguy hiểm. So với vi khuẩn thứ phát thì việc tìm nguyên nhân gốc gây bệnh là quan trọng hơn.

        Không như quản lý bệnh ở thú cưng hoặc bò là quản lý theo cá thể. Heo và gà là những loại động vật được nuôi theo bầy nên khi đánh giá bệnh ta phải đánh giá trên toàn đoàn.

        Để chẩn đoán bệnh chính xác thì phải cần chuyên gia nhiều kinh nghiệm đánh giá điều kiện nuôi dưỡng, triệu chứng lâm sàng, tùy theo quy mô nuôi mà xác định số mẫu phải lấy. Tiến hành kiểm tra máu ( phân tích kháng thể, kháng nguyên….), phân lập các vi khuẩn.Nếu cần thiết cần tiến hành đồng thời phân tích tổ chức bệnh lý.

         Tuy nhiên nếu tiến hành như vậy thì sẽ tốn rất nhiều thời gian, tốn rất nhiều thời gian, mà triệu chứng lâm sàng của heo mỗi ngày mỗi thay đổi. Chính vì những lý do trên mà việc chẩn đoán chính xác rất khó khăn.

        Trong tương lai phải tiếp tục nghiên cứu các bệnh, độc lực của bệnh sẽ cáng ngày càng mạnh nên việc tìm ra phương pháp điều trị thích hợp ngày càng khó. Hơn nữa việc sử dụng kháng sinh bừa bãi làm cho chi phí chữa bệnh sau này càng gia tăng.

       Heo là loại động vật mà con người đầu tư nghiên cứu rất nhiều. Nó giúp lập nên các phương pháp phòng chống các loại bệnh, giúp gia tăng năng suất, đem lại nhiều lợi nhuận. Chính vì vậy cho dù có tốn nhiều thời gian công sức tiền bạc hơn cũng phải chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh.


Biên dịch: Heo Team
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com