Latest Post

Showing posts with label Suc khoe. Show all posts
Showing posts with label Suc khoe. Show all posts

Bọ cạp - Vị thuốc quý chữa co giật

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 27, 2013 | 11:42 PM

Bọ cạp có lớp vỏ cứng nên thuộc loại Giáp xác (Crustaceae) như tôm, cua nhưng cua có 10 chân (decapoda) còn Bọ cạp chỉ có 8 chân nên xếp vào loại nhện (Arachnides); Ve sầu có 6 chân (hexapoda) thì thuộc loại Sâu bọ (Insecta). 


Bọ cạp được xếp vào họ Bọ cạp Buthidae. Người ta dùng Bọ cạp rừng dài tới 12cm (tên khoa học là Pelamneus silenus) hoặc Bọ cạp nhỏ chỉ dài 5-6cm (tên khoa học là Archisometrus mucronatus). Trong Y học cổ truyền người ta thường dùng loại Buthus martensii Karsch dưới tên là Toàn yết. Có khi người ta chỉ dùng phần đuôi của nó làm thuốc  với tên là Yết vĩ. Bọ cạp mà tôi thấy ở Kiến An chỉ đo được 7cm nên gần loài Bọ cạp nhỏ Archisometrus mucronatus.
Bọ cạp ưa sống ở nơi nóng và ẩm. Ban ngày, chúng ẩn náu dưới lá mục , gốc cây, đêm tối chúng mới đi kiếm mồi. Mồi là các động vật nhỏ như sâu bọ, nhện.
Bọ cạp được ghi vào Dược điển Việt Nam 1983.
Tác dụng: Theo Đông y, Toàn yết vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc, vào kinh can.  Có tác dụng trừ phong, trấn kinh.  Dùng chữa các chứng bệnh: kinh giản, co giật, méo miệng, xếch mắt, bán thân bất toại, sài uốn ván.
Liều dùng: Toàn yết khoảng 1-4 con, Yết vĩ (đuôi riêng): khoảng 3-8 cái.  Thường dùng chế thành thuốc viên uống.
Chú ý:
- Phần đầu – ngực của Bọ cạp có giáp cứng ở mặt lưng, mang 4 đôi chân Nó thường dùng 2 cái càng để bắt mồi rồi cong đuôi về phía trước, dùng móc độc giết mồi.
- Cái móc nhọn có tuyến độc là cơ quan tự vệ để giết mồi hoặc tấn công kẻ thù. Trong Toàn yết có chứa chất độc Katsutoxin (còn gọi là Buthotoxin).  Độc tính của nó đối với thần kinh gần giống độc tính của nọc rắn. Ở Pháp, Anh đều gọi là Scorpion, Scorpion có thể làm chết người và gia súc.
- Người thiếu máu (huyết hư) mà sinh kinh phong thì không được dùng.
Caythuocquy.info.vn

Nhện ôm trứng làm thuốc

Written By Anonymous on Wednesday, June 26, 2013 | 10:07 AM

Nhện có nhiều loài khác nhau, chẳng hạn như loài nhện lang thang Brazil (nhện chuối), nhện Tarantula, nhện nước, nhện cua tường, nhện bụng vàng... Nhưng chỉ có hai loại nhện nâu Anaea ventricosa (L.Kock) và nhện ôm trứng được người xưa sử dụng để làm thuốc trị nhiều bệnh.

Theo Đông dược, nhện ôm trứng vị mặn, tính bình, có công dụng giải độc, chỉ huyết, được dùng để chữa các chứng hầu tý (viêm amidan), cam răng, chảy máu cam, trĩ lở chảy máu, nhọt chảy nước vàng, xuất huyết... Ngoài ra, bao trứng nhện (bích tiền mạc) cũng được dùng để làm thuốc. Trong sách Lĩnh Nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông đã viết: "Bích tiền tên gọi bao trứng nhện; Tính mát, không độc, trẻ em cam mũi, vết đao thương; Ung thư, đau họng, chữa rất nghiệm".

Dưới đây là một số cách trị bệnh cổ truyền từ các loại nhện này:

Trị viêm amiđan: Dùng 10 con nhện ôm trứng sấy khô tán bột, thổi vào họng.

Trị trẻ em trướng bụng:
Dùng 5 con nhện ôm trứng giã nát rồi đem tráng với trứng gà ăn mỗi ngày 1 lần, chừng 2 - 3 lần là hiệu nghiệm.

Trị trẻ em cứng hàm không bú được: Dùng 2 con nhện ôm trứng vứt bỏ chân, sao cháy, nghiền nhỏ hòa với sữa uống.

Trị bị mụn nhọt: Lấy nhện ôm trứng sống giã nát đắp vào tổn thương.

Trị bí đái: Dùng nhện ôm trứng với lượng vừa đủ, giã nát với 1 củ hành đắp lên vùng bàng quang.

Trị trĩ sưng đau: Dùng 1 con nhện ôm trứng to và 12g kim ngân hoa, hai thứ bọc đất sét nung chín, lấy ra nghiền nhỏ đắp vào búi trĩ.

Bao trứng nhện
(bích tiền mạc) dùng để làm thuốc chữa các bệnh:

Chữa trị chứng nhũ nga (áp-xe vú): Dùng bao trứng nhện 3 cái sao tồn tính, 3g bạch phàn, hai thứ tán bột uống.

Trị vết thương chảy máu:
Dùng bao tổ nhện dán vào nơi chảy máu.

Trị ho cho phụ nữ
(sau sinh ít lâu bị ho): Dùng 5 – 6 bao tổ nhện sắc kỹ lấy nước cốt hớp một chút.
Theo SKDS

Cây nhót – Loại dược liệu nhiều công dụng

Nhót là thứ quả rất quen thuộc với người dân nước ta nhất là ở các vùng quê. Thông thường người ta chỉ trồng Nhót để lấy quả hoặc nấu canh chua.
Trên thực tế một số ông lang nước ta hay dùng lá Nhót để chữa ho thay cho Tỳ bà diệp của Trung dược. Trong dân gian, một số nơi còn dùng quả Nhót để chữa lỵ và ỉa chảy, dùng lá Nhót để chữa lỵ và cảm sốt. Khách quan mà nói, ở Trung Quốc, cây Nhót được sử dụng làm thuốc có phần toàn diện hơn.
Trong Trung dược, Nhót có tên là “Hồ đồi”. Theo Trung y:
- Quả Nhót: Vị chua, chát, tính bình. Có tác dụng thu liễm, trừ ho suyễn (chỉ khái bình suyễn), chống chảy máu (chỉ huyết). Dùng chữa tiêu hoá kém (tiêu hoá bất lương), lị, ho suyễn, băng huyết, sán khí, trĩ lở loét (trĩ sang). Liều dùng: 9 – 15g.
- Lá Nhót: Vị chua, tính bình, vô độc. Dùng chữa các chứng phế hư khí đoản, khái thấu khí suyễn, khái huyết, ung nhọt… Liều dùng: 9 – 15g khô (20 – 30g tươi).
Đặc biệt, về tác dụng trị chứng hen suyễn, sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân đã viết: Ngay cả đối với người bị hen suyễn rất nặng cũng kiến hiệu. Có người mắc bệnh đã 30 năm, uống lá Nhót bỗng nhiên khỏi bệnh. Người bị nặng, uống thuốc một thời gian, ở ngực thấy nổi mày đay, ngứa ngáy, phải gãi liên tục mới chịu được. Người thể tạng suy yếu quá thì cho thêm cùng một lượng Nhân sâm vào sắc uống.
Kết quả thử nghiệm lâm sàng tại một số bệnh viện ở Trung Quốc những năm gần đây cho thấy: Dùng lá Nhót sao vàng tán mịn, ngày uống 2 lần vào sáng sớm và buổi tối, mỗi lần 4g, dùng nước cơm nóng chiêu thuốc, liên tục trong 15 ngày (một liệu trình), trường hợp cần thiết có thể phải điều trị nhiều liệu trình. Có thể dùng lá Nhót tươi 1 lạng, sắc nước, chia 3 lần uống trong ngày, liên tục trong 4 ngày.
- Rễ cây Nhót: (thường đào vào tháng 9 – 10, phơi khô dùng dần): Vị chua, tính bình. Có tác dụng chỉ khái, chỉ huyết, trừ phong thấp, tiêu tích trệ, lợi yết hầu. Dùng chữa các chứng bệnh ho suyễn, thổ huyết, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, phong thấp khớp xương đau nhức, hoàng đản,  tả lỵ, trẻ nhỏ cam tích, yết hầu sưng đau… Liều dùng: 9 – 15g khô (30 – 60g tươi) sắc với nước hoặc ngâm rượu uống. Dùng ngoài: sắc với nước để rửa.
- Chữa các chứng ho nói chung: Lá Nhót tươi 30g, sắc với nước, thêm chút đường và uống.
- Lao phổi ho ra máu: Lá Nhót tươi 24g, đường 15g; dùng nước sôi hãm như nước trà; ngày uống 2 lần sau bữa ăn.
- Nhọt độc phát ở sau lưng (hậu bối), các vết thương chảy máu: Lá Nhót tươi, rửa sạch, giã nát, đắp vào chỗ bị bệnh
- Bị ong đốt, rắn cắn: Lá Nhót tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt với rượu uống, còn bã đem đắp vào chỗ bị bệnh
- Thổ huyết, đau họng khó nuốt: Rễ cây Nhót 30g sắc với nước uống (Trung thảo dược thủ sách).
- Phong hàn phế suyễn (phát cơn suyễn do bị nhiễm lạnh): Rễ cây Nhót 30g, đường đỏ 15g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm
- Nôn ra máu, khạc ra máu, đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều: Rễ cây Nhót 30 – 60g, sắc nước uống sau bữa ăn cơm
- Phong thấp đau nhức: Rễ cây Nhót 120g, Hoàng tửu 60g, chân giò 500g, đổ nước vào nấu kỹ, thành món chân giò hầm; ăn thịt và uống nước thuốc
- Hoàng đản (vàng da): Rễ cây Nhót 15 – 18g, sắc nước uống
- Phụ nữ sau khi đẻ đau bụng, ỉa chảy ra toàn nước trong kèm theo đồ ăn không tiêu hoá (hạ lị): Dùng rễ cây Nhót 60g, đường đỏ 30g, sắc nước uống
- Sản hậu phù thũng: Rễ cây Nhót, Ích mẫu thảo, mỗi thứ 12g, sắc nước, thêm chút đường đỏ vào uống
- Thấp chẩn (eczema): Rễ cây Nhót một nắm (vùng da bị bệnh rộng thì tăng thêm), sắc nước rửa chỗ bị bệnh.
Caythuocquy.info.vn

Rượu tỏi – thứ thuốc tuyệt vời của nhân loại

Vào những năm 1960 – 1970, WHO (cơ quan theo dõi sức khoẻ và bệnh tật thế giới) của LHQ phát hiện thấy Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khoẻ của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ tương đối cao. WHO đặt vấn đề với Chính phủ Nesser xin cử một số đoàn của WHO vào Ai Cập nghiên cứu xem tại sao lạ có hiệu tượng lạ như thế mà y tế Ai Cập chưa tìm ra lời giải.

Được Tổng thống Nasser đồng ý, WHO huy động nhiều chuyên gia y tế vào Ai Cập, chia nhau xuống các vùng nông thôn, các vùng có khí hậu khắc nghiệt để nghiên cứu và thu thập tài liệu. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu (đông nhất là Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản) đã tìm thấy ở Ai Cập nhà nào cũng có một lọ rượu ngâm tỏi để uống. Nhân dân Ai Cập nói từ bao nhiêu thế kỷ nay, người dân nước họ vẫn làm như thế.
Ở mỗi vùng, tỏi được ngâm theo những công thức khác nhau, chuyên gia các nước đem những công thức đó về nước mình nghiên cứu, phân tích, kết luận rồi thông qua một  bản báo cáo gửi WHO tổng kết và hội thảo về vấn đề này. Đến năm 1980 họ thông báo: Rượu tỏi chữa được 4 nhóm bệnh:
1. Thấp khớp (sưng khớp, vôi hoá các khớp, mỏi xương cốt).
2. Tim mạch (huyết áp thấp, huyết áp cao, hở van tim, ngoại tâm thu).
3. Phế quản (viêm phế quản, viêm họng, hen phế quản).
4. Tiêu hoá (ăn khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét dạ dày).
Tới năm 1983 Nhật lại thông báo bổ sung thêm hai nhóm bệnh nữa là:
5. Trĩ nội và trĩ ngoại.
6. Đái tháo đường (tiểu đường).
Từ 40 tuổi trở đi, các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hoá làm cho các chức năng hấp thụ chất béo (lipit), chất đường (glucose) bị suy giảm. Các chất đó không hấp thụ hết qua đường tiêu hoá, phần thừa không thải ra ngoài được, dần dần lắng đọng trong thành vách mạch máu, làm xơ cứng động mạch và xơ cứng một số bộ phận khác, lâu ngày gây ra một số bệnh như trên.
Trong tỏi có hai chất quan trọng:
1. Phitocid là loại kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn.
2. Hoạt tính màu vàng, giúp làm tiêu chất béo dưới dạng cholesterol bám vào thành vách mạch máu làm cho đường đi của máu từ tim ra và về tim bị tắc nghẽn.
Chính nhờ 2 chất đó mà tỏi có tác dụng chữa bệnh cao.
Công thức:
Tỏi khô (bí lắm mới dùng tỏi tươi): 40g (theo kinh nghiệm thì mua 50g, sau khi bóc vỏ còn 40g), Rượu trắng 45 độ ( tốt nhất là rượu lúa mới): 100ml
Tỏi bóc vỏ, thái nhỏ và cho vào sạch sau đó đổ rượu vào ngâm. Ngâm 10 ngày thỉnh thoảng lại lắc lọ. Mới đầu thì có màu trắng. Sau dần chuyển sang màu vàng đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ.
Cách dùng: 40 giọt compteur gouttes ( tương đương với một muỗng cà phê nhỏ)
Sáng 40 giọt trước khi ăn
Tối 40 giọt trước khi ngủ.
Uống liên tục cả đời. Người phải kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn uống được vì mỗi lần chỉ uống được 40 giọt - một lượng rượu không đáng kể.
Cứ sau 10 ngày phải ngâm một lần để gối đầu cho những lần dùng kế tiếp.
Caythuocquy.info.vn

Quả mận làm thuốc

Mận là một trong những cây ăn quả hết sức thông dụng trong đời sống người Việt.
Mùa xuân ra hoa, mùa hè cho quả, hoa mận nở trắng như tuyết mang mùi hương thơm ngát, quả mận xanh ngọt, vàng chua...đủ vị đủ màu, vốn là một trong những loại trái cây không thể thiếu trong ngày Tết Đoan ngọ theo phong tục truyền thống. Không chỉ có vậy, theo kinh nghiệm y học dân gian, cây mận nói chung và quả mận nói riêng còn là những vị thuốc độc đáo.
Mận có tên khoa học là Prunus salicina Lindl., dân gian còn gọi là lí tử, lí thực, gia khánh tử... Các bộ phận của cây mận như quả, rễ, vỏ rễ, nhựa, lá, nhân hạt...đều có tác dụng chữa bệnh. Quả mận thường được thu hái vào khoảng tháng 5 - 7, vị chua ngọt, tính bình, có công dụng thanh can điều nhiệt, sinh tân lợi thuỷ, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hư lao cốt chưng, âm hư nội nhiệt, môi khô họng khát, thuỷ thũng, tiêu khát, tiểu tiện bất lợi...Ví như, sách
Tuyền châu bản thảo viết :" Lí tử thanh thấp nhiệt, giải tà độc, lợi tiểu tiện, chỉ tiêu khát. Trị can bệnh phúc thuỷ, cốt chưng lao nhiệt, tiêu khát...". Thường được dùng dưới dạng ăn sống hoặc giã nát rồi ép lấy nước uống.
Rễ mận thường được thu hoạch vào tháng 9 - 10, vị đắng, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, chuyên trị chứng tiêu khát (đái đường), lâm bệnh (đái buốt, đái rắt, đáu máu...), lị tật (bệnh kiết lị), đau răng, nhọt độc..., được dùng dưới dạng sắc uống trong hoặc đốt tồn tính, tán bột bôi ngoài. Vỏ rễ là rễ mận loại bỏ lõi trong chỉ lấy vỏ ngoài, vị đắng, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt hạ khí, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiêu khát tâm phiền, đới hạ (khí hư), đau răng..., thường được dùng dưới dạng sắc uống trong, ngậm hoặc giã nát, ép lấy nước bôi ngoài.
Lá mận vị chua, tính bình, chuyên trị trẻ em sốt cao, co giật, thuỷ thũng, vết thương do sang chấn..., được dùng dưới dạng sắc uống trong, nấu nước tắm hoặc giã nát đắp ngoài. Các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Nhật hoa tử bản thảo, Trấn nam bản thảo, Thiên kim phương...đều có ghi lại những bài thuốc sử dụng lá cây mận để chữa bệnh với những kiến giải khá độc đáo.
Nhân hạt mận, còn gọi là lí hạch nhân, vị ngọt đắng, tính bình, có công dụng tán ứ, lợi thuỷ, nhuận tràng, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tổn thương bầm tím do trật đả, ho khạc đờm nhiều, bụng đầy chướng, táo bón...Ví như, sách Tứ xuyên trung dược chí đã viết :" Lí hạch nhân hoạt huyết khứ ứ, nhuận táo hoạt tràng. Trị trật đả thương tổn, ứ huyết tác thống, đàm ẩm khái thấu, cước khí, đại tiện bí kết...". Thường được dùng dưới dạng sắc uống trong với liều mỗi ngày từ 6 - 12g hoặc giã nát hay sấy khô tán bột bôi đắp bên ngoài.
Nhựa mận được lấy vào mùa xuân, đem phơi khô trong bóng râm, vị đắng, tính lạnh, có công dụng tiêu thũng, giảm đau, chuyên chữa chứng mục ế (mắt mờ có màng) và mày đay. Thường dùng dưới dạng sắc uống với liều mỗi ngày từ 15 - 20g.
Dưới đây, xin được giới thiệu một số cách dùng cụ thể
* Đái đường : (1) Quả mận tươi, rửa sạch, bỏ hạt, ép lấy nước, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa canh. (2) Vỏ rễ mận 10g sắc uống hàng ngày.
* Chứng hay khô miệng : Quả mận tươi lượng vừa đủ, rửa sạch, bỏ hạt, ngâm với đường trắng trong 2 tuần, ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 5 quả.
* Cổ chướng do xơ gan : Hàng ngày nên ăn một lượng mận thích hợp.
* Bệnh lị : Vỏ thân cây mận 1 nắm sắc uống
* Trẻ em sốt cao : Lấy lá mận nấu nước lau toàn thân.
* Mày đay : Nhựa mận 15g, sắc uống 2 lần trong ngày, mỗi lần 5 - 10 ml.
* Táo bón : (1) Quả mận khô 400g, mật ong 100 ml đem ngâm với rượu trắng 1800 ml, sau 2 tháng thì dùng được, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 ml. (2) Nhân hạt mận 10g, đào nhân 10g, hạnh nhân 10g, sắc uống.
* Thiếu máu : Nên ăn nhiều mận khô hoặc tươi.
* Tổn thương do trật đả :  Nhân hạt mận 10 - 15g sắc uống.
* Rám da mặt : (1) Nhân hạt mận sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với lòng trắng trứng rồi xoa đều lên mặt. (2) Hoa mận lượng vừa đủ, vò nát rồi xát vào da mặt.
* Đau răng : Rễ mận 30g, sắc đặc ngậm nhiều lần trong ngày.
* Mắt sưng đau có màng : Nhựa mận sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1g với nước sắc thảo quyết minh sao.
* Vết thương do côn trùng đốt : Dùng hạt mận rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vết thương.
* Làm đẹp da mặt : Quả mận tươi 250g, rửa sạch, bỏ hạt, giã nát, ép lấy nước rồi hoà với 250 ml rượu gạo, đựng trong lọ kín để dùng dần, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 - 20 ml.
Theo kinh nghiệm của cổ nhân, nếu ăn quá nhiều mận có thể sinh đàm trợ thấp, gây thương tổn tỳ vị, bởi vậy nên dùng ở mức độ vừa phải. Sau khi ăn mận không nên uống nhiều nước vì dễ bị đi lỏng. Không dùng mận cùng với thịt chim sẻ, thịt hoẵng, trứng vịt và mật ong vì có thể làm thương tổn ngũ tạng. Vì nhân hạt mận có công năng nhuận tràng và hoạt huyết nên những người tỳ vị hư yếu, đại tiện thường lỏng nát và phụ nữ có thai không được dùng.

ThS. Hoàng Khánh Toàn
Caythuocquy.info.vn

Nhục thung dung

Written By Anonymous on Monday, June 24, 2013 | 11:02 PM

Tên khoa học: Cistanche dererticola  
Tên la tinh : Herba Cistanches, Caulis Cistanchis.,Tên Trung Quốc: Roucongrong, Tên tiếng Anh : Desertliving Cistanche.

Vị Nhục thung dung là toàn thân cây nạc phơi khô có mang lá vẩy Caulis Cistanchis. Trên thị trường người ta khai thác :
Cây Thung dung Cistanche Dererticola Y.C.Ma thuộc họ Nhục thung dung Orobanchaceae.
Cây Mễ nhục thung dung có tên khoa học Cistanches ambigua G. Beck (Bge) cùng họ Nhục thung dung.
Cây Nhục thung có tên khoa học Cistanches salsa (C.A.Mey) G.Beck còn có tên  Phelipaea salsa C.A.Mey hay Orbanche Kuntz. Đều thuộc họ Nhục thung dung Orobanchaceae.
Theo tác giả Diệp Quyết Tuyền trong Hiện đại thực dụng Trung dược, Thượng Hải 1957 thì Nhục thung dung lại mang tên khoa học là Boschnikia glabra C.A.Mey và do vị thuốc này nung núc những thịt, tính chất bổ lại hoá hoãn từ từ nên mới có tên này.
Mô tả: Hình trụ bị ép hơi cong, dài từ 3-15cm, đường kính từ 2-4cm. Bên ngoài mầu nâu hay hơi xám nâu, phủ dày đặc với những vảy nạc lợp. Thường các chóp của các vảy đã bị gãy. Cấu trúc nặng, rắn và hơi uốn cong được, không bẻ gãy được. Bề mặt nứt nẻ màu nâu, sắp xếp thành vòng lượn sóng. Mùi nhẹ, vị hơi ngọt và hơi đắng.
Nhận dạng: Thêm vào 1g bột 8ml ethanol chứa đựng 0,5% axit clohydric. Cho chạy ngược trong 10 phút ; lọc trong khi hãy còn nóng. Làm trung tính dịch lọc với amoniac TS và để bốc hơi cho tới khô. Hoà tan cặn trong 3ml axit clohydric 1% và lọc vào 1ml của dịch lọc, thêm 1-2 giọt iodua bismuth Kali TS; một tủa đỏ da cam hay nâu hơi đỏ được sinh ra.
Phân bố: Vị thuốc Nhục thung dung ít dùng, nhưng lại hay được sử dụng chữa những trường hợp yếu sinh lý, sinh dục. Sách Thần nông bản thảo xếp vị Nhục thung dung vào loại “Thượng phẩm”. Vị thuốc Nhục thung dung hiện nay ta phải nhập hoàn toàn.
Thu hái: Tại những nơi có cây người ta thường thu hoạch vào hai mùa xuân và thu, những tháng từ 3-5 thu hoạch là tốt nhất. Quá thời gian đó thì chất lượng kém. Nếu thu hái vào mùa xuân thì dược liệu được đào khi các mầm chưa chui ra khỏi mặt đất hoặc vừa mới ló ra, loại bỏ các cụm hoa và đất cát, cắt thành lát về phơi khô ngoài nắng hay trong mát là được.  Còn nếu thu hoạch vào mùa thu nước nhiều rất khó làm khô. Người ta cho vào hũ với muối, và muối từ 1-3 năm. Khi nào dùng làm thuốc thì rửa sạch muối mới dùng.
Cách chế: Herba Cistanches: Loại tạp chất, rửa kỹ, làm mềm cẩn thận, cắt thành lát dày và phơi khô.
Herba Cistanches (đã chế với rượu): Hầm hay hấp các khoanh của Herba Cistanches như đã mô tả trong phương pháp hầm với rượu hay hấp với rượu cho tới khi rượu đã được hấp thụ hoàn toàn. Có khi người ta đun cách thuỷ với rượu, để khi rượu cạn mới dùng. Cứ 1kg Nhục thung dung dùng 0,3 lít rượu.
Cho tới nay chưa có tài liệu nghiên cứu về hoá cũng như về dược lý.
Công dụng: Hiện nay vẫn chỉ thấy sử dụng trong y học cổ truyền.
Tính vị: vị ngọt chua, tính hơi ôn, không có độc. Có tài liệu nói : cay, ôn, đại nhiệt. Có tác dụng tư âm, bổ thận, ích tinh, huyết, tráng dương, (mạnh dương), hoạt trường (trơn ruột).
Dùng trong những trường hợp bị liệt dương, lưng gối lạnh đau (nam), vô sinh, bạch đới, khí hư (nữ). Huyết khô, táo bón, yếu toàn bộ. Làm mạnh thận, nhuận tràng, chữa đau thắt lưng và đầu gối.
Liều dùng: Ngày dùng 6(9) - 8(12)g dưới dạng thuốc sắc, thuốc hoàn. Những người thận dương vượng, đại tiện lỏng, dương vật dễ cương lại di mộng tinh thì không dùng được.
Bảo quản: Giữ ở nơi thoáng, khô, chống mọt.
Đơn thuốc: (có Nhục thung dung dùng trong nhân dân) Nhục thung dung 10g, Sơn thù du 5g, Thạch xương bồ 4g, Phục linh 6g, Thỏ ty tử 8g, Nước 600ml sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Hâm nóng thuốc khi uống. Chữa suy nhược thần kinh. (Kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền).
Vũ Văn Chuyên
Caythuocquy.info.vn

Cây chanh

Cây Chanh thuộc họ Cam quýt là cây quả rất phổ biến ở nước ta và trên thế giới. Chanh có 2 loại chính: Chanh núm và chanh vỏ mỏng.
Chanh núm: tên khoa học là Citrus limon gốc ở miền Trung và Tây Bắc ấn Độ, vùng ít mưa khí hậu khô mát không quá lạnh, không quá nóng ẩm. Quả hình trái xoan, vỏ dày, có núm ở phía đuôi nên gọi là chanh núm. Chanh này được trồng nhiều ở vùng ven biển Xixin (ý), Hy Lạp, Tây Ban Nha, Nam Califonia. ở các vùng này chanh núm mới có chất lượng cao: Chín vàng, thơm, nhiều nước. Đã trồng  thử chanh núm, giống Ơ Rê Ka, ở nước ta nhưng chưa có kết quả tốt, cây ra hoa kết quả rải rác, màu sắc quả không đẹp, vỏ dày, ít nước, người tiêu dùng không ưa thích, giá trị kinh tế kém nhiều so với chanh vỏ mỏng nên chanh núm không đi vào sản xuất lớn.
Chanh vỏ mỏng: Tên khoa học là gốc ở những vùng nóng, mưa nhiều độ ẩm không khí cao như các vùng miền Nam ấn Độ, bán đảo Đông Dương. Giống này cây nhỏ, nhiều gai, quả thường nhỏ, vỏ mỏng hình tròn hoặc hình trái xoan, nhiều nước, rất chua. Khi chín, vỏ quả còn xanh hoặc hơi vàng, thịt thường màu xanh nhạt, cũng có giống chanh thịt đỏ, vỏ đỏ nhưng ít trồng. Chanh vỏ mỏng là giống phổ biến ở nước ta, ở miền Bắc quả to hơn, vỏ thường xanh. ở Nghệ An có giống chanh Khánh Tân, quả to tới 60-80g/quả, thường cho quả chín vào dịp Tết, bán được giá rất cao. ở miền Nam có nhiều giống hơn, giống phổ biến là giống quả nhỏ (30-40g), vỏ quả màu vàng nhạt, có mùi thơm hấp dẫn.
Thành phần hoá học
Vỏ quả chanh: Lớp vỏ ngoài chứa tinh dầu, vỏ mỗi quả cho khoảng 0,5ml tinh dầu, khoảng 3000-6000 quả cho một lít tinh dầu. Cùi trắng chứa pectinc.
Nước quả chanh: Khoảng 50 quả chanh cho 1 lít nước chanh. Trong nước quả chanh có 80- 82% nước, 5-10% axit xitric, 1-2% Citrat canxi và Kali, một ít xitrat etyl và 0,4-0,5% axit malic. Trong một 100g nước chanh có 65mg vitaminC và các vitamin B1, riboflavin.
Lá chanh chứa tinh dầu cho mùi thơm dễ chịu.
Công dụng
Nước quả chanh: Có nhiều vitamin nên làm dịu căng thẳng thần kinh, trợ giúp tiêu hoá, phân giải chất độc trong cơ thể, hạn chế và hạ huyết áp, uống nước chanh thường xuyên  có tác dụng hỗ trợ điều trị cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, hoại huyết. Nước chanh có nhiều axit citric dùng để phòng và chữa sỏi thận. Ngậm chanh có thể chữa bệnh viêm khớp dạng thấp, đái tháo đường, rối loạn tiêu hoá. Nước chanh còn làm đẹp da do các axit xitric trung hoà kiềm mặt da. Da hấp thụ được vitamin A, C, P làm cho da đẹp và mịn màng. Vì thế chanh thường được chế biến làm kem thơm dưỡng da. Nước chanh là gia vị rất cần thiết trong các bữa ăn. Những ngày nóng nực, uống nước chanh sẽ sinh tân dịch, giải khát giảm nóng.
Tinh dầu chanh: Có vitamin P làm tăng cường chức năng mạch máu, điều tiết tính thẩm thấu của mao mạch, có tác dụng phòng ngừa bệnh xuất huyết dưới da, xuất huyết não. Xoa tinh dầu chanh thường xuyên có thể làm mất các vết đen ở mặt do trứng cá gây ra.
Lá và ngọn chanh: Lá dùng làm gia vị ăn với thịt gà, ốc, nấu nước xông chữa cảm cúm, lá và búp non chanh giã nát đắp lên rốn trẻ em chữa bí đái, đầy trướng bụng.
Hạt chanh: Vị đắng tính bình, có tác dụng hành khí, giảm đau.
Vỏ thân cây chanh: Được dùng làm thuốc giúp tiêu hoá, ngày uống 4 - 10g dưới dạng thuốc sắc.
Rễ chanh: Dùng chữa ho, ngày dùng 6-12g dùng riêng hay sắc chung với rễ cây dâu  tằm.
Chanh có nhiều tác dụng nhưng đối với người bị viêm loét dạ dày, nhiều dịch toan thì không nên ăn chanh.
Hiện nay chanh được dùng tươi là chính nhưng cũng chế biến thành chanh muối, mứt chanh, nước chanh, tinh dầu chanh để dùng trong chế biến thực phẩm, mỹ phẩm. Trong y học cổ truyền tất cả các bộ phận của cây chanh đều dùng làm thuốc.
Caythuocquy.info.vn

Hẹ - một kháng sinh quý cho trẻ

Hẹ là thức ăn gia vị sống không thể thiếu được với món ăn đặc sản, bình dân, vào các buổi sáng của các miền quê Bình Định, đó là bánh hỏi,  làm bằng bột gạo từng thỏi sợi bún nhỏ mini.

Hẹ, còn có tên gọi : nén tàu, phi tử, cửu, cửu thái, dã cửu, phác cát ngân.
Tên khoa học : Allium odorum L. (Allium tuberosum Roxb).
Cây hẹ, cho chúng ta nhiều kháng sinh quý đặc biệt với các bệnh về hô hấp và đường ruột của trẻ em.
Hẹ là một cây thanh nhỏ, cao từ 25 - 40cm, toàn cây thu hái tươi, vò nát có mùi thơm đặc trưng. Loại cây có nhiều rễ con, lá hẹ hẹp, dài, dày, một bụi hẹ có từ 4-6 lá dài từ 20-25cm rộng từ 1,5-9 mm, đầu lá hẹ nhọn.
Hoa mọc trên một cọng, hoa từ gốc trở lên, dài từ 20-30cm, hoa màu trắng có cuống hoa dài từ 10-15mm. Quả hẹ khô dài từ 4-5mm, hạt hoa nhỏ màu nâu đen.
Hẹ rất dễ trồng, là một loại rau gia vị quý như hành, tỏi. Hẹ còn là một cây thuốc cho chúng ta rất nhiều kháng sinh.
Hẹ đã được các Nhà khoa học nghiên cứu có các hợp chất: Sunfua, saponin và chất đắng, Odorin. Chất Odorin được xem như một kháng sinh đặc trị các loại vi trùng staphyllococcus aureus và Bacillus coli.
Trong hạt hẹ còn có ancaloit và saponin.
Trong nước ép tươi của lá hẹ có nhiều kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng, như một kháng sinh đa khuẩn cho các loại vi trùng ở đường tiêu hoá nói chung và đặc biệt là đối với bệnh lý đường ruột nói riêng: như vi trùng staphyllococcus aureus, Samonella typhi, Sh Flexneri và Subtilis, colipathogene và Coli bethesda. Tính chất của kháng sinh này khá vững bền. Ưu điểm của nước ép lá hẹ không cay. Do đó, các trẻ em chịu uống hơn, nếu cho thêm một ít đường phèn hoặc vài giọt mật ong thì được xem như dạng siro nước, ép lá hẹ tươi cho các cháu uống chỉ tốt khi dùng lá hẹ tươi sống, không nên đun sôi sẽ làm mất tác dụng của kháng sinh.
Hẹ không những là một loại gia vị rất tốt trong các bữa ăn, nó còn là vị thuốc rất quý trong chữa trị cảm ho, sốt sổ mũi cho trẻ em. Không có độc tính, dùng rất đơn giản, chỉ cần một nắm lá hẹ tươi rửa sạch, thái nhỏ trộn với một ít đường phèn hấp trong nồi cơm sôi vừa cạn hoặc chưng cách thuỷ, để nguội cho bé uống sẽ dịu ngay cơn ho, cảm, sốt.
Dùng chữa kiết lỵ khi phân có nhày và máu mũi, làm thuốc bổ dưỡng gan, thận, chữa bệnh di tinh, viêm nhiễm đường tiết niệu, tiểu tiện có máu, bệnh giun kim ở trẻ em, đau nhức xương khớp, liều dùng từ 6-12g hoặc từ 20-30g tuỳ theo trọng lượng của cơ thể.
Hẹ là thức ăn gia vị sống không thể thiếu được với món ăn đặc sản, bình dân, vào các buổi sáng của các miền quê Bình Định, đó là bánh hỏi,  làm bằng bột gạo từng thỏi sợi bún nhỏ mini. Nếu không có lá Hẹ tươi nhúng dầu phụng chín hoặc mỡ heo khử thơm để bôi lên và cho thêm ít cọng lá hẹ tươi trên đĩa bánh hỏi... thì không thể nào gọi là bánh hỏi bình dân và cũng chỉ có ở xứ sở Bình Định mà thôi.

Caythuocquy.info.vn

Rễ cây Bọ mẩy là “Bản lam căn” ?

Bài “Phát hiện cây Đại Thanh diệp tại Đà nẵng” của tác giả Trần Đình Niên đã cung cấp những thông tin về cây thuốc này và hảo tâm chia sẻ với chúng ta những kinh nghiệm sử dụng quý giá của mình. Tuy nhiên, có một chi tiết, theo thiển ý của tôi, có thể là nên xem xét thêm. Cụ thể: Rễ cây Bọ mẩy không phải là vị thuốc Bản lam căn trong Đông y Trung Quốc.
Cây bọ mẩy
Như ông đã viết: “Trong thuốc Bắc có hai vị thuốc Đại Thanh Diệp (lá), Bản lam căn (rễ) đều có tác dụng thanh nhiệt rất tốt, nhưng trên thị trường phải nhập của Trung Quốc nên thường rất đắt, đôi khi hiếm không tìm mua được. Đọc sách thuốc tôi được biết hai vị thuốc đó có cùng nguồn gốc từ một cây còn có tên là Bọ mẩy hay Đắng cẩy, mọc hoang ở vùng đồi trung du Bắc bộ và Trung bộ nước ta...”. Xin được trao đổi chi tiết hơn:
Về Đại thanh diệp và Đại thanh căn.
Trong Đông y Trung Quốc (Trung y), vị thuốc mang tên Đại thanh diệp là cành, lá của 5 cây khác nhau (trong số đó, 3 cây thấy mọc ở Việt Nam):
1- Cây Lộ biên thanh – Clerodendron cyrtophyllum Turcz. Thuộc họ Cỏ roi ngựa. Cây này ở Việt Nam gọi là Bọ mẩy, cũng chính là cây mà tác giả T.Đ Niên đã đề cập đến trong “ ống kính khắp nơi”, CTQ số 3, tháng 4 năm 2003.
2- Cây Liễu lam – Polygonum tinctorium Ait., thuộc họ Rau răm (Polygonaceae). Tại Việt Nam, cây có tên là Nghể chàm, mọc hoang ở Hà Tây, Ninh Bình,... và được trồng ở một số nơi để chế thuốc nhuộm.
3- Cây Mã lam – Baphicananthus cusia (Nees) Bremek.; còn có tên khoa học là Strobilanthes cusia (Nees) Kuntze. Thuộc họ Ô-rô (Acanthaceae). Tại Việt Nam gọi là cây Chàm mèo, mọc hoang ở các thung lũng ẩm ướt, núi đá; có mặt ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc, như Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Thái Nguyên...
4- Cây Tùng lam Isatis tinctoria L. thuộc họ Chữ thập (Brassicaceae). Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc VN của GS Đỗ Tất Lợi, cây này không thấy ở nước ta. Cũng không có mặt trong Từ điển cây thuốc VN của TS Võ Văn Chi.
5- Cây  Thảo đại thanh – Indigotica Fort., họ Chữ thập (Brassicaceae)- cũng chưa phát hiện thấy ở VN.
Trong khi vị thuốc Đại thanh diệp có thể là cành lá của nhiều loài cây, thì vị thuốc Đại thanh căn lại là rễ của một cây duy nhất: cây Lộ biên thanh - Clerodendron cyrtophyllum Turcz. đã nói ở trên. Trong sách thuốc Trung Quốc Đại thanh căn, còn có tên là Xú căn, Dã địa cốt (Phúc kiến dân gian  bản thảo), Thổ địa cốt bì (Giang Tây dân gian thảo dược nghiệm phương).
Về vị thuốc Bản lam căn:
Bản lam căn là rễ của 3 loài cây:
1. Cây Tùng lam ( còn gọi là Đại lam) , tên khoa học là Isatis tinctoria L., họ Chữ thập (Brassicaceae). Chưa phát hiện thấy mọc ở VN; Không thấy mô tả trong Những cây thuốc và vị thuốc VN và Từ điển cây thuốc VN.
2. Cây Thảo đại thanh, tên khoa học là Isatis Indigotica Fort., họ Chữ thập (Brassicaceae)- Cũng chưa phát hiện thấy ở VN.
3. Cây Mã lam, tên khoa học là Baphicananthus cusia (Nees) Bremek., họ Ô-rô (Acanthaceae). Cây này ở Việt Nam gọi là Chàm mèo, như đã nói ở trên.
Như vậy đã có thể đưa ra hai nhận xét:
Cây Bọ mẩy ở  Việt Nam cho ta 2 vị thuốc: Đại thanh diệp và Đại thanh căn.
Rễ cây Bọ mẩy không phải là vị thuốc Bản lam căn trong Đông y Trung Quốc.
Caythuocquy.info.vn

Hoa lựu làm thuốc

Lựu (Punica granatum L), còn họi là Tháp lựu, Thạch lựu, An thạch lựu, Đan nhược, Kim bàng, Kim tương, Tạ lựu... là một loại cây nhỏ, thuộc mộc, cao chừng 2-3m, thân xám có vỏ mỏng, cành mảnh, lá đơn mọc đối, hình thuôn dài, gân 5,6 đôi hình cung, mép nguyên cuống ngắn.

Hoa lựu màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu) mọc riêng lẻ hoặc từng xim 3 hoa ở kẽ lá, thường nở về mùa hạ. Quả da màu lục, khi chín màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có 8 ngăn xếp thành hai tầng, tầng trên có 5 ngăn, tầng dưới có 3 ngăn, phân cách nhau bởi một màng mỏng. Hạt rất nhiều, hình 5 cạnh, sắc hồng trắng.
Cây lựu được trồng ở khắp nơi để làm cảnh và lấy quả ăn. Vỏ thân, vỏ rễ và đặc biệt là vỏ quả còn được dùng làm thuốc với công dụng sát trùng (làm sạch săn se niêm mạc), chỉ tả (cầm ỉa chảy), chỉ huyết (cầm máu), khử trùng (trừ giun sán), chuyên dùng để chữa các bệnh như cửu tả, cửu lỵ (tả lỵ mạn tính), tiện huyết, hoạt tinh, thoát giang (lòi dom), băng lậu, đới hạ (khí hư), trùng tích phúc thống (đau bụng do giun sán)... Theo nghiên cứu dược lý hiện đại, vỏ quả lựu có chứa tanin 10,4%; wax, resin 4,5%; D - mannitol, mucilage, axit gallic, axit malic, pectin, canxi oxalat, gun, inulin, axit elaidic , isoquercetrin, cyanidin-3- glucozit, cyanidin–3, 5- diglucozit, pelardonidin-3,5- diglucozit.., có tác dụng băng se và bảo vệ niêm mạc đường tiêu hoá, kháng khuẩn, kháng virút và tẩy giun sán.
Hoa lựu được nhiều người yêu mến vì vẻ đẹp rực rỡ và quý phái. Cổ nhân có câu: “Ngũ nguyệt lựu hoa chiếu mãn minh”, đại thi hào Nguyễn Du cũng đã viết một câu thơ nổi tiếng về hoa lựu : “Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông”. Tuy nhiên, ít người biết rằng, trong y học cổ truyền hoa lựu còn là một vị thuốc độc đáo. Theo các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Thánh tễ tổng lục, Đắc phối bản thảo, Phân loại thảo dược tính...,Thạch lựu hoa vị chua sáp, tính bình, có công năng chủ trị các chứng bệnh như tỵ huyết (chảy máu cam), thổ huyết (nôn ra máu), xuất huyết do trật đả, kinh nguyệt không đều, lỵ tật, bạch đới (một dạng khí hư) , viêm tai giữa, đau răng...
Một số cách dùng cụ thể như sau :
* Phế ung  (áp xe phổi): Hoa lựu trắng 7 đoá, Hạ khô thảo 9g, sắc uống. Hoặc hoa lựu 6g, Ngưu tất 6g, Nhẫn đông đằng (dây Kim ngân) 15g, Bách bộ 9g, Bạch cập 30g, đường phèn 30g sắc uống.
* Phế kết  hạch (lao phổi) : Hoa lựu trắng 30g, Hạ khô thảo 30g sắc uống.
* Ho và nôn ra máu: Hoa lựu trắng tươi 24 đoá, đường phèn 15g sắc uống.
* Viêm tiền liệt tuyến: Hoa lựu trắng tươi 30g nấu canh với thịt lợn ăn hàng ngày.
* Lỵ cấp và mạn tính: Hoa lựu trắng 18g sắc kỹ chia uống 3 lần trong ngày.
* Trĩ xuất  huyết: Hoa lựu trắng 7 đoá, đường phèn 9g sắc uống.
* Thoát giang (lòi dom) : Hoa hoặc vỏ quả lựu vừa đủ, phèn chua một chút, sắc kỹ rồi cho thêm một ít bột Ngũ bội tử sao, ngâm hậu môn hàng ngày.
* Khí hư: Hoa lựu 3-5 đoá, sắc với một chút rượu uống. Hoặc hoa lựu 30g sắc kỹ, lấy nước bỏ bã rồi ngâm rửa âm đạo.
* Băng lậu: Hoa lựu 9g, sắc uống. Hoặc hoa lựu 3-5g sắc với rượu uống.
* Viêm tai giữa : Hoa lựu: lượng vừa đủ, sấy khô, cho thêm một chút Băng phiến rồi tán thành bột mịn, mỗi lần lấy một ít thổi vào tai bị bệnh. Hoặc Hoa lựu 50g đem ngâm với 250 ml rượu trắng, sau 10 ngày thì dùng được, lọc kỹ qua gạc vô trùng rồi cho thêm 4g băng phiến. Khi dùng, cần vệ sinh cho tai sạch mủ rồi dùng dịch thuốc nhỏ vào tai, mỗi ngày 3-4 lần, mỗi lần 1-2 giọt.
* Chảy máu mũi: Hoa lựu: lượng vừa đủ, sấy khô tán bột rồi lấy một chút thổi vào lỗ mũi. Hoặc dùng hoa lựu 6g sắc uống. Cũng có thể dùng Hoa lựu tươi, rửa sạch giã nát rồi nhét vào lỗ mũi.
* Đau răng: Hoa lựu vừa đủ sắc uống thay trà hàng ngày.
* Viêm loét miệng: Hoa lựu đốt tồn tính, tán bột rồi bôi vào chỗ loét, mỗi ngày hai lần. Có thể cho thêm một chút Thanh đại thì càng tốt.
* Bỏng: Hoa hoặc vỏ lựu: lượng vừa đủ, sấy khô tán bột rồi trộn với Dầu vừng bôi lên tổn thương.
*Vết thương xuất  huyết: Hoa lựu khô tán vụn rồi rắc lên vết thương. hoặc Hoa lựu một phần, Thạch khôi hai phần, hai thứ sấy khô, tán thành bột mịn, rắc vào tổn thương.
Hoa lựu nên thu hái khi mới nở, dùng tươi hoặc đem phơi trong bóng râm cho khô rồi cất giữ nơi khô ráo để dùng dần. Cũng như vỏ quả và vỏ rễ, hoa lựu không nên dùng cho người bị táo bón.
ThS. Hoàng Khánh Toàn
Caythuocquy.info.vn

Cây Lộc mại

Cây Lộc mại có tên khoa học: Claoxylon indicum (Reinw.ex Blume) Endl.ex Hassk thuộc họ Thầu Dầu (EUPHORBIACEAE)

ở Việt Nam, cây  có nhiều tên gọi khác nhau như: Lộc mại, Lục mại, Mọ trắng, Rau mại, Rau mọi. Ngoài ra  còn có một số loài khác như: Lộc mại trái láng, Lộc mại lá dài, Lộc mại nhỏ).

Lộc mại là cây gỗ nhỏ hay lớn, có thể cao đến 15m. Lá đa dạng, phiến hình bầu dục dài 10-14cm, gốc lá có khía hơi lõm, mép răng thưa, mỏng, có lông dày hay thưa có đốm trong, cuống ngắn hay dài đến 10cm. Cụm hoa dài có lông dày, hoa đực, dài 20cm lông thưa, ngắn ở chùm hoa cái. Hoa đực có 15-20 nhị, hoa cái có bầu 2-3 ô, mỗi ô một noãn. Quả nang có lông dày dài khoảng 1cm. Hạt dài 3mm, màu trắng. Lộc mại ra hoa tháng 5-8, kết quả vào tháng 7 (ảnh chụp kèm theo)
Ở nước ta, Lộc mại mọc ở rừng và đồi vùng đồng bằng và trung du có độ cao dưới 700 m từ Lào cai đến  Kiên Giang.

Công dụng: Lá có tác dụng tẩy. Rễ có vị nhạt, tính bình, ít  độc có tác dụng khu phong, trừ thấp, tán ứ, giảm đau. (Chú ý: các tư liệu về loài Mercurialis của Pháp không thể áp dụng vào loài Claoxylon của Việt nam)

Lá Lộc mại non nấu canh ăn được. Lá giã nát thêm muối và nước vo gạo, hơ nóng đem chườm chữa quai bị, thấp khớp. Người cơ thể suy nhược, phụ nữ có thai không được dùng.

Tuy nhiên, dùng Lộc mại có thể bị ngộ độc. Đối với hệ thống tiêu hoá thì gây hiện tượng ăn không tiêu, đầy bụng, đau vùng ruột, đi ngoài lỏng hoặc táo bón. Với hệ thống tiết niệu: nước tiểu có mầu đỏ, đái vặt và buốt. Tim đập mạnh và nhanh. Bệnh nhân mệt yếu. Viêm dạ dày và ruột, viêm thận. Muốn chữa ngộ độc cần dùng thuốc nhuận để tống hết chất độc hoặc dùng thuốc kích thích chung toàn thân. Cần chú ý là nước tiểu màu đỏ không phải là do đái ra máu mà là do một loại sắc tố của cây.
Caythuocquy.info.vn

Cây càng cua

Cây càng cua còn gọi là cây Càng cua chín mé

Mô tả : cây thân mềm, thuộc thảo, lá mọc so le, cành so le, để nhánh tại nách lá ngắn, diện tích từ 1 -2 cm2 , phiến lá hình trái xoan, cuống lá hình tim, đầu nhọn, thân và lá trong xanh, mọng nước,Gân lá thường có 5 gân, hoa nhỏ mọc ở đọt, thường kết hạt nhỏ li ti kết trên cuống hoa.
Phân bố, thu hái và chế biến: Cây mọc khắp nơi ở nước ta, thường mọc nơi có độ ẩm cao, ở vườn hay chậu kiểng... đều mọc tốt . Lâu ngày, cây bò rộng thành bụi, phát tán hạt, mọc nhiều cây con. Hạt có tính tiềm sinh cao, tồn tại lâu khi ở môi trường khô khắc nghiệt, khi có ẩm độ tốt lại phát triển thành cây.
Làm thuốc thường dùng tươi vì cây mọc suốt 4 mùa.
Nhân dân thường trộn với rau sống ăn tươi hoặc tái cùng thịt bò, ăn rất bổ và mát.
Tính vị quy kinh: (theo nghiên cứu của tác giả) vị chua, tính mát vào kinh can và thận.
Tác dụng: Mát gan, thanh nhiệt bổ thận âm, tiêu độc, lượng huyết.
ứng dụng lâm sàng: diều trị các thể bệnh: thận nhiệt, can nhiệt, huyết nhiệt, huyết độc, nội nhiệt, ban càng cua, bệnh chín mé.
Liều dùng: Uống 50 - 100g tươi mỗi ngày.
Kinh nghiệm dùng cây Càng cua của tôi.
Tôi thường cho các bệnh nhân có nhiệt nóng dùng cây Càng cua giã nát, vắt nước uống hoặc chần tái ăn với thịt bò.  Ăn từ  5 đến 7 ngày thì kết quả tốt, cơ thể mát dịu bình hoả (thường dùng tốt với các mạch tượng: huyền, sác, khẩu tế...).theo kinh nghiệm gia truyền, dùng rau Càng cua chữa bệnh ban cua, chín mé (Sưng, nhiễm khuẩn đầu ngón tay chân..) hiệu quả cao, sau đây là vài bệnh án điển hình:
Bệnh nhân Lê thị Ng., tổ 52, An Hải Đông:
Sưng ngón tay trỏ bàn tay trái, mưng đỏ, lan đỏ khắp bàn tay, không mủ, đau nhức vô cùng, không co duỗi được ngón tay, uống kháng sinh một tuần nhưng không đỡ.
Bệnh nhân đến tôi khám, tôi chẩn đoán viêm nhiệt, tích nhiệt độc tại chỗ do nhiễm khuẩn, loại chín mé.  Tôi cho uống Ngân kiều, Bại độc tán và dùng cây Càng cua giã nát với vài hạt muối sống để bó ngón tay.  Kết quả, sau 1 ngày bớt đau nhức, 2 ngày hết đỏ bàn tay, 3 ngày tụ mủ đầu ngón tay, bật mủ 5 ngày sau lành hẳn.  Chỉ để lại di chứng nhỏ là gân ngón trỏ hơi co không duối hết ngón tay, nhưng ngón tay vẫn cử động bình thường.
Nguyễn thị L...tổ 41 C An Hải Đông, Trần quang H...tổ 49 An Thượng, phường Bắc Mỹ An cũng sưng đau ở ngón tay, ngón chân đến tôi điều trị đều cho kết quả tương tự.
Bệnh nhân Huỳnh N...40 tuổi, Công ty thương mại Đà Nẵng.  Khám bệnh ngày 8/9/1989.  Bệnh nhân đến trong tình trạng phát sốt, đau lưng, đau co rút người, cúi ngửa đều đau, nằm co kiểu lưng tôm thì đỡ đau.  Sắc mặt nhợt do đau, lưỡi đỏ rêu bẩn, thở mệt hơi ngấn, tiếng nói nhỏ.  Bệnh nhân đau như vậy đã 10 ngày, vẫn đi làm,  đã uống thuốc cảm Tây  y.  2 ngày trước khi đi khám, bệnh nhân bắt đầu sốt, uống hạ sốt giảm, sau đó lại sốt cao, rồi đau còng lưng rút người.  Ăn ít, ngủ ít, do đau, khát nước thích uống mát, tiểu vàng, đại tiện táo, mạch trầm, sác lưỡng xích đoản.
Khám người thấy rải rác có ban nổi lấm tấm ở 2 vai, hông sườn: ngang thắt lưng vùng thận du có một mảng ban đỏ ẩn dưới da, to bằng cỡ bàn tay, có nhiều tia đỏ hướng ngoại.
Tôi luận trị: Bệnh nhân cảm lâu ngày vẫn đi làm, tà khí lục dâm vào sâu, lâu ngày kích động, hoá nhiệt, thiêu đốt huyết, tạo thành huyết độc, xuất ra thành ban. Uống thuốc kìm hãm , nọc độc ban không phát ra được tích lại thành huyết nhiệt độc, nguyên khi bệnh nhân lại yếu, thận khí hư  yếu, nhiệt  độc thừa cơ nhập thận, gây đau xương cốt, ảnh hưởng gân làm rút người. Đó là bệnh Ban cua.

Chú thích:

Ngân kiều bại độc thang gia giảm.
Ngân hoa 16 g, Liên kiều 16g, thạch cao 8g, Cát cánh 12 g, Hoàng liên 12g, Hạ khô thảo 16g, Đơn bì 12g, Bồ công anh 16g, Đẳng sâm 16g, Sài hồ 10g, Tiền hồ 10g, xuyên khung 10g, Chỉ xác 10g, Khương hoạt 12g, Độc hoạt 12g, Phục linh 14g, Cam thảo 6g,
Ngân kiều thạch hộc thang.
Kim ngân hoa 16g, Liên kièu 16g, thạch hộc 16g, thục địa 20g, Toàn nhục 16g, Hoài sơn 16g, Phục linh 12g, Trạch tả 12g, Đơn bì 10g, Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g,
Thạch cao 10g
Trên đây là những kinh nghiệm lâm sàng khi dùng cây thuốc nam Càng cua phối hợp chữa bệnh của tôi. Xin giới thiệu để quý đồng nghiệp và bạn đọc tham khảo và thử ứng dụng nhằm làm phong phú thêm kinh nghiệm điều trị bằng cây thuốc nam dân tộc.

LY Lê Vĩnh Phương,
Phó chủ tịch Hội Đông y Sơn trà.

Củ ấu trị cảm sốt

Củ ấu tên khoa học Trapa bicornis L- Hydrocaryaceae, họ củ ấu Trapaceae, còn gọi là ấu trụi, ấu nước, kỵ thực, hạt dẻ nước, năng thực (Trung Quốc). Là loại thực vật thủy sinh sống dưới nước, mọc trong ao đầm, thân ngắn có lông.

Quả thường gọi là củ có hai sừng, quả cao 35mm, rộng 5cm, sừng dài 2cm, đầu sừng hình mũi tên, sừng do các lá đài phát triển thành. Trong củ chứa một hạt ăn được, có vị ngọt mát, bùi, giàu dinh dưỡng. Củ ấu có 4 loại là ấu đỏ, ấu 2 sừng, ấu 3 sừng và ấu 4 sừng.

Cây củ ấu được trồng ở các ao đầm khắp nơi trong nước ta. Trồng bằng hạt hay bằng chồi. Mùa hoa (ở miền Bắc) vào tháng 5 - 6; mùa quả vào các tháng 7 - 9. Quả cũng để ăn, vỏ quả và toàn cây dùng làm thuốc. Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.

Thành phần hóa học: Trong hạt ấu có tinh bột chừng 49% và chừng 10,3% protid. Các chất khác chưa thấy nghiên cứu. Theo tài liệu Trung Quốc, trong 100g củ ấu chín có 4,5g albumin, 0,1g chất béo, 19,7g chất đường các loại, 0,19g vitamin B1, 0,06g B2, 1,5mg PP, 13mg C, 7mg Ca, 0,7mg sắt, 19mg Mn, 93mg P. Chất AH13 là chất chiết ung thư gan được dùng hỗ trợ điều trị chống ung thư.

Theo Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân, củ ấu vị ngọt chát, tính bình. Công dụng thoát tả, giải độc, tiêu thũng. Dùng chữa tiêu chảy, kiết lỵ, đại tiện ra máu, bệnh dạ dày. Mỗi lần dùng 30-60g sắc uống. Củ ấu đốt tồn tính, tán bột trộn dầu vừng bôi chữa trĩ, mụn nước, viêm nhiễm ngoài da; nấu vỏ lấy nước rửa hậu môn chữa sa trực tràng (lòi dom).

Công dụng và liều dùng: Củ ấu chủ yếu được nhân dân dùng luộc ăn hoặc chế biến thành bột trộn với mật hay đường làm bánh. Quả sao cháy dùng chữa nhức đầu, choáng váng và cảm sốt. Ngày dùng 3-4 quả dưới dạng thuốc sắc. Vỏ quả sao cho thơm, sắc uống chữa sốt, chữa mệt nhọc khi bị sốt rét, còn dùng chữa loét dạ dày, loét cổ tử cung. Toàn cây chữa trẻ con sài đầu, giải độc rượu, làm cho sáng mắt. Ngày dùng từ 10-16g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng. Cần lưu ý, tuy củ ấu là vị thuốc, ăn ngon, nhưng ăn nhiều sẽ gây trệ khí, do đó những người có u cục ở ngực bụng không dùng.

Dưới đây là một số cách trị bệnh từ cây, củ ấu
:

- Chữa nhức đầu, choáng váng, cảm sốt: lấy 3 - 4 củ ấu sao cháy, sắc uống, ngày 1 thang.

- Sốt, sốt rét, loét dạ dày: vỏ củ ấu sao thơm, sắc uống.

- Giải độc rượu, làm sáng mắt, chữa sài đầu trẻ: lấy 10-16g toàn cây, sắc uống.

- Rôm sảy, da khô sạm: dùng củ ấu tươi, giã nát, xoa lên da.

- Viêm loét dạ dày: thịt củ ấu 30g, củ mài 15g, hồng táo 15g, bạch cập 10g, gạo nếp 100g, nấu cháo, cho thêm 20g mật ong, trộn đều ăn.

- Hư nhược phiền khát: thịt củ ấu tươi 50g, địa cốt bì 15g, câu kỷ tử 6g, hoàng cầm 6g, cam thảo chế 6g. Sắc uống.

- Trị say rượu: thịt củ ấu tươi 250g, nhai nuốt.

- Trị tỳ vị hư nhược: thịt củ ấu 50g, bạch truật 15g, hồng táo 15g, sơn tra 10g, sơn dược 15g, màng mề gà 6g, cam thảo chế 3g. Sắc uống.

- Trị đại tiện ra máu: vỏ củ ấu 60g, địa du 15g, tiêu sơn căn 6g, ô mai 10g, cam thảo chế 6g. Sắc uống.

- Trị bệnh trĩ, nhọt nước: vỏ củ ấu sấy khô, đốt tồn tính, tán bột, trộn đều với dầu vừng, bôi hoặc đắp.
Theo SKDS

Cây cải củ trừ đờm, tiêu thực

Cây cải củ còn có tên: lai phục tử, la bặc tử, rau lú bú. Tên khoa học: Raphanus sativus L., họ Chữ thập (Brassicaceae). Cây cải củ cho ta 2 vị thuốc: Hạt cải củ (La bặc tử), củ cải phơi khô (địa khô lâu).

Theo Đông y, la bặc tử vị cay ngọt, tính bình. Vào kinh tỳ, vị và phế. Có tác dụng đưa hơi đi xuống (giáng khí), trừ đờm; ngoài ra, còn có tác dụng tiêu thực (giúp tiêu hoá). Địa khô lâu có tác dụng lợi niệu, tiêu thũng, lưu thông hơi ở phổi; Kiện tỳ tiêu thực, hạ khí hóa đàm, hoá tích khoan trung, sinh tân giải độc. Dùng cho các trường hợp đầy bụng không tiêu, viêm khí phế quản ho nhiều đờm, khản tiếng; thổ huyết chảy máu cam, bệnh tiểu đường và hội chứng lỵ. Liều dùng: 6g - 12g.

Một số cách dùng củ cải chữa bệnh:

Cắt cơn hen suyễn:

- Hạt cải củ sao 12g, hạt tía tô 12g. Sắc uống. Chữa người già bị viêm phế quản mạn tính.

- Hạt cải củ sao 12g, hạnh nhân 12g, cam thảo sống 8g. Sắc uống. Chữa viêm phế quản mạn tính, ho nhiều đờm.

- Hạt cải củ sao 12g, chỉ xác 8g, thần khúc sao xém 16g. Sắc uống. Chữa tiêu hoá kém, mồm hôi, bụng trướng, đại tiện khô.

- Hạt cải củ 12g, tỏi 1 củ. Hạt cải củ nghiền thành bột, tỏi củ giã nát ép lấy nước. Uống bột thuốc và nước tỏi với nước đun sôi còn nóng. Chữa lỵ đau mót đại tiện.

Một số món ăn - bài thuốc có dùng củ cải:

-  Nước ép gừng tươi củ cải: Củ cải, gừng tươi liều lượng tùy ý, ép lấy nước cho uống rải rác ít một trong ngày. Dùng cho trường hợp khản giọng, mất tiếng, nôn ói, loét miệng.

- Canh thịt dê, cá diếc củ cải: Thịt dê 100g, cá diếc 1 con, củ cải 60g. Thêm nước và gia vị nấu canh lẩu, ăn nóng. Dùng cho các trường hợp suy nhược, viêm khí phế quản, ho suyễn.

- Củ cải hầm bì sứa: Bì sứa 120g, củ cải 60g. Thêm nước và gia vị, hầm nhừ chia ăn 2 lần trong ngày. Dùng cho bệnh nhân viêm khí phế quản mạn tính.

- Cháo củ cải: Gạo tẻ 100g, củ cải 50g. Củ cải thái lát cùng gạo nấu cháo, thêm chút muối cho ăn. Dùng cho trường hợp đầy bụng không tiêu do ăn uống quá nhiều các loại bánh kẹo, đường, mỡ.

- Củ cải hầm nước gừng: Củ cải (cả lá và cuống) 20 củ. Rửa sạch thái lát nấu nhừ, thêm mấy lát gừng, bột gạo, ít dấm, đun sôi để vừa nguội cho ăn. Dùng cho các trường hợp đại tiện xuất huyết rỉ rả liên quan đến trĩ và uống rượu.

- Nước ép củ cải hấp đường phèn: Củ cải tươi (hoặc luộc chín) 500g. Ép lấy nước, thêm đường phèn lượng thích hợp cho uống, ngày 1 lần. Dùng cho các trường hợp hen suyễn, viêm khí phế quản mạn tính, cảm sốt ho nhiều đờm.

Kiêng kỵ: Hạt cải củ có thể hao tổn khí (sức lực) nên người sức yếu (khí hư) không bị đầy tích, đờm trệ đọng thì cấm uống. Người tỳ vị hư hàn nên hạn chế dùng củ cải.
Theo SKDS

Nhân trung bạch trị mồ hôi chân

Nhân trung bạch là cặn của nước tiểu phơi khô. Vị thuốc này đã được sử dụng từ xa xưa.

Theo tài liệu cổ, nhân trung bạch vị mặn tính bình, mùi khai, không độc. Vào 3 kinh: can, tam tiêu và bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, khứ ứ, cầm máu. Thường dùng trị những bệnh: cổ họng sưng đau, chảy máu cam, thiên đầu thống, đau răng đau lợi, loét lưỡi, loét niêm mạc, cam tẩu mã, ho do phế nhiệt...
Liều dùng: ngày dùng 4 - 7g dưới dạng thuốc sắc hoặc tán bột. Dùng ngoài liều lượng có thể tăng lên. Có thể dùng độc vị hoặc phối hợp cùng những vị khác.

Nhân trung bạch được dùng làm thuốc chữa bệnh trong các trường hợp:
Trị loét lưỡi: Nhân trung bạch 0,5g, nung kỹ tán bột, để riêng. Lá đinh lăng (dùng lá non) 15g, bỏ vào cối giã nhỏ. Hai thứ trộn đều, đưa miếng thuốc vào miệng ngậm lại, sau ít phút thì nhổ đi.

Bài thuốc uống: nhân trung bạch 4g, hoàng liên 10g, lạc tiên 12g, bồ công anh 12g, hạt muồng (sao) 10g, liên nhục 12g, tang diệp 15g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: tả tâm hỏa, chống viêm.

Trị cam tẩu mã:
Nhân trung bạch 1g nung đỏ, sau đó tán bột, lấy mật ong 10ml. Hai thứ trộn đều, dùng thuốc này bôi vào nơi cam tẩu mã. Trước khi bôi thuốc lấy lá tía tô nấu nước rửa sạch nơi bị tổn thương.

Trị dưới bàn chân bị rỗ (còn gọi hà), ra mồ hôi, đau buốt:
nhân trung bạch sao kỹ tán bột, rắc vào.

Trị ho khan do phế nhiệt, hơi thở nóng:
nhân trung bạch 4g (sao kỹ), bạch mao căn 16g, cát cánh 12g, mạch môn 12g, rau dấp cá 16g, tang diệp 16g, lá xương sông 16g, rau má 16g, cam thảo bắc 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
Theo SKDS

Cây dướng chữa bệnh tiết niệu

Cây dướng mọc hoang khắp nơi ở miền Bắc đất nước ta. Cây dướng có tên khoa học Broussonedia papyrifera (L) Vent. thuộc họ dâu tằm (Moraceae).

Nhiều bộ phận của cây dướng được dùng làm thuốc phòng chữa bệnh đặc biệt nhóm bệnh thận của Đông y. Sau khi hái quả về ngâm nước 3 ngày, quấy lên, vứt bỏ quả nổi, sau đó phơi khô, ngâm với rượu một lúc rồi nấu. Nấu xong phơi khô dùng dần. Quả dướng Đông y gọi là chử thực tử. Vào 2 kinh: tâm, tỳ. Có vị ngọt, mát, thanh can, bổ thận, mạnh gân cốt, sáng mắt. Dùng tốt cho người có tuổi. Liều dùng hằng ngày 8-10g quả chín phơi âm can hay sấy khô ngâm rượu uống. Có nơi dùng nấu nước chè, cháo, cao..

Một số cách dùng cây dướng chữa bệnh

Bổ thận tráng dương: có thể ngâm rượu. Thường được phối hợp thêm các vị thuốc bổ thận khác như đỗ trọng, câu kỷ tử, ngưu tất, ngũ vị tử, ba kích, hà thủ ô...

Già yếu, tiểu nhiều, chân phù: quả dướng 12g, phục linh 10g, đỗ trọng 10g, câu kỷ tử 10g, ngưu tất 8g, tiểu hồi hương 3g, bạch truật 10g. Nước 3 bát sắc còn 1 bát. Uống ngày 3 lần trước bữa ăn 30 phút.

Lưng gối mỏi, nóng trong xương, sưng mộng răng: quả dướng 9-15g. Sắc uống.

Đau nhức cơ xương khớp: lá dướng bánh tẻ tươi ăn như món rau hằng ngày.

Lợi tiểu tiêu phù: lá dướng nấu lấy nước đặc cô thành cao. Mỗi lần uống một chén nhỏ hòa với nước ấm, uống vào lúc đói. Ngày 3 lần.

Chữa đái đục:
lá dướng sấy khô, tán bột luyện hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm (Namdược thần hiệu).

Phù toàn thân: vỏ thân cây dướng cạo bỏ lớp bẩn bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Khi dùng lấy 12g dược liệu phối hợp mộc thông 12g, phục linh 12g, vỏ rễ dâu 4g, vỏ quýt khô 4g, gừng 3 lát. Sắc với 400ml nước còn 100ml. Chia 2 lần uống trong ngày (Namdược thần hiệu).

Gan nóng sinh mắt vàng: quả dướng nghiền, lọc lấy nước, uống sau bữa ăn.

Mắt mờ, nhức mỏi: quả dướng 500g, hoa kinh giới 500g, nghiền nhỏ hoàn mật bằng đầu ngón tay trỏ. Uống mỗi lần 1 viên với nước sắc lá bạc hà loãng.

Kinh nguyệt không đều và kéo dài:
vỏ dướng 8-10g sao cháy. Uống với nước hòa ít rượu. Chia 2 lần uống.

Kiết lỵ: lá dướng tươi (bánh tẻ) 20g, rửa sạch giã nhỏ thêm nước gạn lấy 10ml, thân rễ seo gà 20g, thái nhỏ sắc với 200ml nước còn 50ml. Trộn 2 nước (lá và rễ) uống làm một lần trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Chữa mụn nhọt, vết ong đốt: lấy lá, quả dướng tươi giã đắp hoặc lấy nhựa lá để bôi.

Chảy máu cam: lá dướng tươi giã vắt lấy nước uống trong ngày.

Bị đâm chém chảy máu: quả dướng giã đắp.

Thổ huyết, tử cung xuất huyết: lá dướng tươi 50-100g giã vắt lấy nước uống.

Nhiễm nấm, hắc lào, lang ben, chàm: lấy mủ nhựa để bôi (tránh vùng mắt) hoặc giã nhuyễn lá, quả để bôi đắp. Lở ngứa ghẻ đun nước các bộ phận của cây dướng (tươi tốt hơn khô) để tắm, rửa, ngâm…

Cảm sốt: lá dướng nấu để xông.

Trẻ em táo bón: Để nhuận tràng cho trẻ lấy lá non bánh tẻ nấu canh cho trẻ ăn hoặc quả chín nấu nước uống.
Theo SKDS

Thổ phục linh

Thổ phục linh là vị thuốc quen thuộc, đa tác dụng. Đó là thân rễ cây Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb), còn gọi là củ Khúc khắc có vị ngọt, tính bình, vào hai kinh can, vị nó có tác dụng lợi thấp, giải độc.

Gần đây, một số cơ sở nghiên cứu y học cổ truyền (YHCT) của Trung Quốc đã có những bài thuốc dùng Thổ phục linh là chính để chữa  nhiều bệnh đạt hiệu quả tốt.
Thổ phục linh chữa viêm tĩnh mạch nông huyết khối
Đây là loại viêm cấp tính tĩnh mạch nông ở tay chân, không gây mủ, có kèm theo cục máu đông nội mạch thứ pháp.  Chữa trị chủ yếu bằng Thổ phục linh, mỗi ngày một thang 20-30g sắc nước uống một lần. Đồng thời, tuỳ tình hình bệnh mà phối hợp thêm bài thuốc khác. Nếu ở giai đoạn cấp tính sưng đỏ nhiều thì phải thanh nhiệt lợi thấp, hoà dinh lương huyết bằng bài thuốc Ngũ vị tiêu độc ẩm gồm Kim ngân hoa, Dã cúc hoa, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Tử bối thiên quỳ và bài Tam diệu hoàn gia giảm gồm Hoàng bá, Thương truật, Ngưu tất. Nếu người bệnh đau nhiều thì ngoài Thổ phục linh, uống thêm Chích nhũ hương, Chích một dược để hoạt huyết khư ứ, hành khí thư cân. Nếu bệnh đã lâu ngày, chỗ đau có đường cứng nổi lên, trên da xuất hiện mảng sắc tố màu nâu thì thêm Tam lăng, Nga truật để phá huyết, phá khí giảm đau, tán ứ tán kết. Ngoài việc dùng Thổ phục linh sắc uống, hàng ngày trước khi đi ngủ, lấy 50-100g Thổ phục linh thêm 500ml nước, sắc còn 100-200ml, dùng gạc tẩm nước thuốc ấm, đắp 30 phút, đồng thời chú ý nằm nghỉ, gác cao chỗ đau, tránh đứng lâu, ngồi lâu.
Theo quan điểm YHCT, viêm tĩnh mạch huyết khối nông thuộc phạm trù “mạch tý”, “hoàng thu ung”, phần lớn do ngoại tà thấp nhiệt xâm nhập, làm cho khí huyết ứ trệ, mạch lạc trệ tắc không thông, chữa trị bằng cách thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết thông lạc giảm đau. Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh Thổ phục linh có tác dụng kháng ngưng tụ tiểu cầu, giảm bớt tính đông máu tăng cao, giảm độ nhớt của máu, ngăn ngừa hình thành huyết khối tĩnh mạch, đồng thời cải thiện vi tuần hoàn, chống viêm, tiêu sưng. Do đó mà Thổ phục linh chữa được viêm tĩnh mạch huyết khối nông.
Thổ phục linh chữa đau bụng kinh
Bài thuốc: Thổ phục linh 30g, Thương truật 15g, Tiểu hồi hương 10g, Đương qui 10g, Xuyên khung 10g, Ngũ linh chi 10g, Xích thược 10g, Một dược 10g, ích mẫu thảo 15g, sắc nước uống trước kỳ kinh 3 ngày, uống liên tiếp 7 thang. Thường sau 4 kỳ kinh thì khỏi.

Theo YHCT, hàn thấp tà nhập bào cung, gây khí huyết ứ trệ. Thổ phục linh có tác dụng trừ thấp, phối hợp với Thương truật, Tiểu hồi hương ôn kinh tán hàn, cùng các vị thuốc hoạt huyết trục ứ phá trệ, toàn bài thuốc có tác dụng khư thấp, tán hàn, hoạt huyết mà khỏi đau bụng kinh.

Thổ phục linh chữa u nang buồng trứng


Bài thuốc: Thổ phục linh 30g, Hoàng bá 15g, Hạ khô thảo 15g, Bào sơn xuyên giáp 10g, Hải tảo 15g, Mẫu lệ 30g, Hương phụ 15g, Đương qui 15g, Đan sâm 15g, Trạch tả 190g, Ngưu tất 10g.  Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang chia làm 2 lần.
Theo YHCT, u nang buồng trứng thuộc phạm trù “chứng tích”, do phụ nữ bụng dưới can kinh khí trệ, thấp nhiệt uẩn kết, khí trệ huyết ứ, thuỷ ẩm đình tụ mà sinh ra. Trong bài thuốc, Thổ phục linh, Xuyên sơn giáp, Hạ khô thảo, Hoàng bá có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp giải độc; Hải tảo, Mẫu lệ có tác dụng nhuyễn kiên tán kết; Hương phụ lý khí giải uất; Đương qui, Đan sâm hoạt huyết hoá ứ; Trạch tả trợ giúp Thổ phục linh lợi thuỷ tiêu tích; Ngưu tất vừa hoạt huyết, vừa dẫn các thuốc đi xuống, toàn bài thuốc phối hợp có tác dụng giải độc, hoạt huyết, hoá ứ, lợi thuỷ tiêu tích, do đó mà khỏi được bệnh.

Thổ phục linh trị bệnh ngoài da trẻ em

Trị rôm mùa hè: Lấy 30g Thổ phục linh, sắc lấy nước, để ấm, lấy khăn sạch thấm nước thuốc bôi lên chỗ rôm, mỗi ngày 3 - 5 lần. Lại lấy lượng nước thuốc vừa đủ, thêm vào nước uống mà tắm, mỗi ngày một lần, liên tục 3 - 5 ngày.

Trị eczema: Nghiền Thổ phục linh thành bột mịn, đắp lên chỗ đau, mỗi ngày 3-5 lần, liên tục 5 ngày.

Theo YHCT, trẻ em là “thuần dương chi thể”, ý nói ở trẻ em dương khí thịnh, hoả nhiệt nội uẩn phát tán ra ngoài. Cho nên, bệnh ngoài da ở trẻ em thường là do tà độc thấp nhiệt kết ở da. Thổ phục linh trị được bệnh do có tác dụng giải độc, lợi thấp.
Caythuocquy.info.vn

Cây ô môi - Thức ăn và thuốc bổ đặc sản vùng đồng bằng sông cửu long

Cây ô môi mọc hoang và được trồng ở nhiều tỉnh miền Nam nước ta và quả ô môi cũng gần như một đặc sản vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Vào giữa mùa xuân, nếu có dịp về thăm vùng Tây Nam bộ, xứ sở của ô môi, ngồi trên chiếc xuồng lướt trên các kênh rạch trong vùng, chúng ta sẽ gặp màu hoa hồng thắm rực rỡ của những cây ô môi dọc theo những con kênh, bao quanh các xóm làng, gợi nhớ đến hoa đào miền Bắc. Từ lâu đời bà con sống ở hai bên bờ kênh rạch vùng Đồng Tháp Mười đã trồng ô môi để ăn trái, làm thuốc bồi dưỡng cơ thể, lấy thân cây làm gỗ, làm củi đun bếp.
Cây ô môi (tên khoa học là Cassia grandis L.F) là một loài cây gỗ to, thuộc họ Vang (Caesalpiniaceae), thân cao tới 10-12m, vỏ thân nhẵn, những cành non có lông mầu rỉ sắt, cành già màu nâu đen. Lá kép lông chim gồm hàng chục đôi lá chét dài 7-12cm, rộng 4-8cm, có phủ lông mịn. Hoa màu hồng tươi mọc thành chùm ở những kẽ lá đã rụng. Chùm hoa thõng xuống, dài tới 20-40cm. Quả hình trụ, cong như lưỡi liềm, dài 40-60cm, đường kính 3-4cm, có 50-60 ô, mỗi ô chứa một hạt dẹt, quanh hạt có cơm màu nâu đen, vị ngọt, mùi hắc. Vỏ quả màu đen, có gân nổi ôm tròn từng khía. Lúc quả ô môi chín già, khi vừa hái xuống thì có mùi khăn khẳn hăng hắc, không mấy ai ăn ngay, mà thường đem về đặt dưới nền nhà ít hôm mới sử dụng. Càng để lâu, chất lượng quả càng tăng, ăn ngon ngọt có hương vị đặc biệt.
Ô môi không chỉ là một loại quả ngon độc đáo của vùng đồng bằng sông Cửu Long mà còn là một vị thuốc bổ được so sánh ngang với Canh-ki-na. Chính thứ cơm màu nâu đen đặc sền sệt chứa trong quả ô môi này được nhân dân ta ngâm rượu làm thuốc bổ uống. Rượu ô môi có màu đỏ đẹp như mầu rượu canh-ki-na và cũng có tác dụng như rượu canh-ki-na, nên ô môi còn được gọi là “canh-ki-na Việt Nam”.
Cách chế biến như sau: về mùa thu, khi quả ô môi chín, người ta hái quả về, bỏ vỏ, hạt, chỉ lấy cơm ngâm rượu. Trung bình một quả ô môi có thể ngâm với một nửa lít rượu 25-30o trong 15-20 ngày là dùng được Nhưng nếu càng để lâu thì càng tốt.
Qua phân tích thành phần hoá học, người ta thấy trong cơm quả ô môi có gluxit, chất nhầy, tanin, saponin, canxi oxalat, antraglucozit, tinh dầu và chất nhựa. Rượu ô môi được nhân dân ta dùng làm thuốc bổ, tăng cường tiêu hoá, giúp ăn ngon miệng, ngoài ra còn có tác dụng chữa đau lưng, đau xương. Liều dùng: ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ trước bữa ăn.
Ngoài việc ngâm rượu uống, nhân dân ta còn lấy cơm quả ô môi nấu cao mềm uống làm thuốc kích thích tiêu hoá, nhuận tràng.
Caythuocquy.info.vn

Ong mật và tác dụng chữa bệnh

Càng ngày các nhà y học và nuôi ong càng phát hiện thêm những tính chất chữa bệnh quý báu của sản phẩm từ tổ ong: mật ong, sữa ong chúa, keo ong, nọc ong và phấn hoa. Vì vậy, ngày nay, các sản phẩm từ tổ ong không chỉ được dùng trong y học cổ truyền của một số nước mà còn được sử dụng ngày càng nhiều trong y học hiện đại

Càng ngày các nhà y học và nuôi ong càng phát hiện thêm những tính chất chữa bệnh quý báu của sản phẩm từ tổ ong: mật ong, sữa ong chúa, keo ong, nọc ong và phấn hoa. Vì vậy, ngày nay, các sản phẩm từ tổ ong không chỉ được dùng trong y học cổ truyền của một số nước mà còn được sử dụng ngày càng nhiều trong y học hiện đại

Mật ong

Y học ngày nay đã thừa nhận mật ong có tính kháng khuẩn và chống nấm, nhưng không có tác dụng chống u, bướu. Dù nguồn gốc thế nào, các loại mật ong khác nhau đều có những đặc tính chung là cung cấp năng lượng, phục hồi sức khoẻ và chống stress. Ngoài ra, mỗi loại mật ong còn có tính chọn lựa đối với từng cơ quan để đạt được tác dụng chữa bệnh tốt hơn.
Gần đây, các nhà nuôi ong và y học phương Tây có nhận xét rằng mật ong từ hoa Cỏ xạ hương có tác dụng kháng sinh mạnh. Tác dụng đó chủ yếu là đối với đường tiêu hoá, còn mật ong từ cây Oải hương lại được đặc biệt chỉ định trong các bệnh đường hô hấp và ngoài da. Rồi người ta biết thêm rằng mật ong từ hoa cây Xương rồng, cây Thầu dầu và cây Đại kích được khuyên dùng trong bệnh thấp khớp của bệnh nhân nhậy cảm đối với lạnh, mật ong từ cây Quyết minh rất có ích cho người mắc bệnh đường tiết niệu (thận và bàng quang).

Theo các nghiên cứu gần đây ở nước ngoài, mật ong từ hoa cây Tràm, Bạch đàn có tác dụng tốt cho đường hô hấp và thầy thuốc khuyên dùng nó trong các bệnh cảm cúm, viêm phế quản, ho, viêm xoang, hen phế quản. Mật ong từ hoa Cam, Quýt có tác dụng tốt đối với hệ thần kinh, được xem là một loại thuốc an thần tuyệt hảo. Mật ong từ hoa Hướng dương có tác dụng hấp thu Cholesterol dư thừa trong máu và là vị thuốc quý cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và huyết áp cao.

Một nhà nuôi ong giàu kinh nghiệm ở Đà Nẵng đã sử dụng Mật ong để chữa bệnh sỏi thận và sỏi bàng quang có hiệu quả: bệnh nhân được cho uống 10g mật ong hoà vào dịch một quả chanh tươi với một ít nước đun sôi để nguội. Ngày uống hai lần như vậy vào buổi sáng và tối. Ông cũng đã chữa khỏi chứng rối loạn tiền đình cho bệnh nhân và bản thân mình với liều 1 thìa canh mật ong, 3 lần trong ngày và khối lượng mật ong sử dụng là 2 lít.

Keo ong
Các nhà khoa học Nga đã phát hiện tác dụng quý của keo ong là kìm hãm sự tăng nhanh của tế bào ung thư, khối u. Họ sử dụng keo ong dưới dạng dung dịch nước và rượu 40% và 96% để nghiên cứu trên các vi trường nuôi cấy tế bào Phoblastoid (tế bào khối u lâm ba Burkitt) và nhận thấy dung dịch rượu 40% của keo ong có tác động kìm hãm sự tăng sinh của các tế bào ung thư rõ nhất và làm ngừng sự tăng sinh của các tế bào ung thư này ở các nồng độ 50mkg/ ml và cao hơn, gần với các nồng độ có hoạt tính của các thuốc chống ung thư Cyclophosphan và 5 - Eulaoricacyl. Để tiến hành các thí nghiệm trên động vật và trên lâm sàng, năm 1976 và năm 1989, các thầy thuốc Liên Xô (cũ) dùng dung dịch chiết xuất từ keo ong và đã thu được những kết quả dương tính trong việc kìm hãm tăng sinh tế bào khối u. Các tác giả cũng đã khuyến cáo việc dự phòng và điều trị u hạch quanh niệu đạo và ung thư tuyến tiền liệt bằng cách sử dụng có hệ thống và kéo dài rượu keo ong 40% hay bơ chứa 10-15% keo ong với liều một thìa cà phê trước khi đi ngủ đã cho được kết quả tốt. Tác dụng điều trị này được tăng lên khi kết hợp với uống nước sắc các cây thuốc có tác dụng chống ung thư như rễ cây Mẫu đơn, cây Bạch chỉ, rễ cây Đại hồi hương, quả cây Đỗ tùng, rễ hoành cây Bạch chỉ, cỏ Xạ hương bò, hoa cây Cam cúc thường ...
Năm 1995, trong bài viết “Sức khoẻ của con người và các sản phẩm của tổ ong”, Tiến sĩ Nga Hakim đã cho rằng các “gốc tự do” là những chất thải của quá trình trao đổi chất và sự tấn công ADN tế bào bởi các gốc tự do có thể là nguồn gốc của các bệnh ung thư, những rối loạn chuyển hoá và sự phát triển sơ cứng động mạnh và sự già cỗi của tổ chức. Keo ong và các sản phẩm của tổ ong (sữa ong chúa, thức ăn khô của ong, phấn hoa, mật ong) là những chất có tính chất quan trọng bảo vệ tế bào bởi tác dụng chống oxy hoá và chống các gốc tự do.
Keo ong cũng có tác dụng chữa bệnh viêm loét dạ dày có hiệu quả. Các giáo sư Nga V.M. Frolov và N.A. Peressadine đã điều trị một bệnh nhân bị loét dạ dày nặng bằng keo ong và thu được kết quả điều trị sau 40 ngày bằng cách cho uống rượu keo ong 20% hay 30% với liều 40-60 giọt hoà vào dung dịch 0,5% Novocain (giảm đau) hay 1/4 ly sữa. Sau 3-4 ngày điều trị, kết quả xét nghiệm tổ chức dạ dày cho thấy các xói mòn và ổ loét dạ dày đã được lớp biểu bì phủ lên. Sau 40-50 ngày, các cơn đau, nôn mửa mất đi, sức khoẻ được hồi phục và giấc ngủ trở lại bình thường.
Trong trường hợp nhiễm xạ do vụ nổ hạt nhân ở Tchernobyl, sự tăng sinh tế bào tuyến giáp của bệnh nhân nhiễm xạ tăng lên gấp 45 lần so với bình thường. Theo các thầy thuốc Nga, việc điều trị bằng rượu keo ong 10% và 30% rất có hiệu quả.

Sữa ong chúa

Các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) cho rằng sữa ong chúa có tính chất điều biến miễn dịch nên góp phần làm tăng khả năng tự vệ tự nhiên của cơ thể, có ảnh hưởng dương tính đến trạng thái thần kinh và hệ tim mạch, kích thích sự thành sẹo của các xói mòn và ổ loét dạ dày.
Các giáo sư Nga cũng dùng sữa ong chúa để chữa cho các bệnh nhân bị nhiễm xạ nguyên tử ở mức độ nhẹ với liều 100mg mỗi ngày, đặt dưới lưỡi chia làm 2-3 lần trong ngày và kéo dài một thời gian. Các thầy thuốc lưu ý rằng sữa ong khi uống dễ bị phá huỷ bởi axit clohydric và men tiêu hoá, vì vậy lên dùng dạng viên dẹt đặt dưới lưỡi. Nếu uống sữa ong chúa thì trước đó 10-15 phút phải uống nửa ly nước khoáng kiềm hay dung dịch 2% xút hoà tan uống được. Với cách này, người ta có thể chữa khỏi bệnh loét dạ dày có  kết hợp với keo ong trong 2-3 tuần.
Tuy sữa ong chúa không có tính kìm hãm các tế bào ung thư tăng sinh, nhưng có khả năng kéo dài tuổi thọ của động vật và người bị ung thư. Theo các nhà nghiên cứu, điều đó chắc chắn là nhờ tác động của axit decenic có trong sữa ong chúa kích thích vào hoc mon của vỏ thượng thận. Như vậy có thể dùng viên sữa ong chúa như một liệu pháp điều trị bổ sung trong tiền ung thư và các bệnh khối u, đặt dưới lưỡi 3 lần trong ngày.
Đặc biệt sữa ong chúa có khả năng phục hồi năng lực sinh dục của nam giới ở bệnh nhân liệt dương. Nhiều bệnh nhân bị nhiễm phóng xạ trong tai nạn Tchernobyl thường bị suy giảm sinh dục. Nhiều trường hợp sau khi được dùng sữa ong chúa, mật ong, keo ong, năng lực sinh dục của họ được phục hồi trở lại bình thường. Nên sử dụng sữa ong chúa buổi sáng lúc chưa ăn gì và buổi tối trước khi đi ngủ.

Phấn hoa:
Theo tiến sĩ Nga H. Hakim, phấn hoa chứa một thành phần các axit amin tương tự như bêta - endorphin là một nội kích tố thần kinh do tuyến yên của não bài tiết mà chất này gồm có 31 axit amin. Có thể do đó mà phấn hoa cung cấp các axit amin cần thiết cho sự tổng hợp bêta - endorphin của não và hocmôn này có tác dụng an thần và vai trò điều hoà hoạt động thần kinh.
Thật kỳ diệu đối với người mắc bệnh Parkinsơn (chứng liệt rung): ở một bệnh nhân, một đợt điều trị 15 ngày với liều 24 gam phấn hoa (bằng 3 thìa cà phê) chia 2 lần uống vào sáng sớm và buổi tối, chứng rung tay và lắc đầu sẽ giảm đi trông thấy. Sau một tháng uống phấn hoa, chứng đầu ngón tay bị dật không còn nữa. Thời gian điều trị có thể kéo dài 6 tháng, tốt hơn nữa là hàng tuần có kết hợp với việc dùng sữa ong chúa một lần với liều 10mg (nhỏ hơn hạt bắp).
Phấn hoa cũng có tác dụng dự phòng và điều trị chứng tăng sinh tuyến tiền liệt và khối u tuyến tiền liệt. Nam giới 40-45 tuổi trở lên, mỗi ngày nên uống 15g phấn hoa để phòng bệnh.
Phấn hoa còn có khả năng điều trị bệnh tiểu đường: một nữ bệnh nhân mỗi ngày bài tiết 60g đường và mỗi lít nước tiểu chứa 48g đường, được cho uống mỗi ngày 32g phấn hoa (bằng 4 thìa cà phê) mà không dùng insulin. Sau 15 ngày điều trị bệnh nhân chỉ bài tiết 9,4g đường mỗi ngày, đường trong nước tiểu chỉ còn 6,2g/lít. Bệnh nhân tiếp tục sử dụng phấn hoa và sau một thời gian hàm lượng đường trong nước tiểu chỉ còn 1g/lít và sức khoẻ được hồi phục.
Phấn hoa cũng được các thầy thuốc dùng để điều trị liệt dương với liều uống hàng ngày 32g (bằng 4 thìa cà phê), chia 2 lần vào sáng sớm và buổi tối. Hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn nếu kết hợp với sữa ong chúa, mỗi lần 5mg (bằng hạt ngô).

Nọc ong:
Nhiều thầy thuốc Liên Xô (cũ) đã sử dụng nọc ong có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân bị viêm khớp bằng cách cho ong đốt trực tiếp. ở nước ta, nhà nuôi ong Tôn Thất Đảng ở Đà Nẵng đã chữa khỏi bệnh nhân Basedow (ưu năng tuyến giáp) bằng cách cho ong đốt ngay vào bướu: trong 5 ngày đầu, cho ong đốt tăng dần từ 1-5 con, từ đó mỗi tuần cho ong đốt 2 lần, mỗi lần 5 con bướu teo dần cho đến bình thường. Ông cũng cho biết đã chữa cho một nữ bệnh nhân trẻ mắc bệnh tâm thần theo cách chữa trên và sau một thời gian thì khỏi bệnh mà không thấy bệnh tái phát.

Nói tóm lại, các sản phẩm từ tổ ong là những sản phẩm có tính chất bảo vệ tế bào chống các gốc tự do gây oxy hoá, chống các quá trình lão hoá khi sử dụng lâu dài nhất là sữa ong chúa và keo ong, đã góp phần khôi phục lại bộ máy di truyền của tế bào, làm giảm số lượng sai hình nhiễm sắc thể và góp phần sửa chữa các sai hình đó của tế bào bao gồm các tế bào của hệ miễn dịch, vì vậy mà có tác dụng chữa được nhiều bệnh.
Caythuocquy.info.vn

Cây Địa Hoàng

Một cây thuốc mà y học Trung Quốc cho là thần dược. Một cây thuốc mà trước kia ở Việt Nam ta chưa có, nay đã trồng được. Vì vậy, Vụ Y học Cổ truyền đã đưa nó vào danh mục cây thuốc trồng trọt trong nước là chính. Một  cây thuốc mà cùng một rễ củ của nó cho ta hai vị thuốc: Sinh địa và Thục địa. Đó là cây Địa Hoàng.

Một cây thuốc mà y học Trung Quốc cho là thần dược. Một cây thuốc mà trước kia ở Việt Nam ta chưa có, nay đã trồng được. Vì vậy, Vụ Y học Cổ truyền đã đưa nó vào danh mục cây thuốc trồng trọt trong nước là chính. Một  cây thuốc mà cùng một rễ củ của nó cho ta hai vị thuốc: Sinh địa và Thục địa. Đó là cây Địa Hoàng.

Nguồn gốc

Địa hoàng là cây thuốc quý cho 2 vị thuốc: Sinh địa (tức là củ Địa hoàng còn sống) và Thục địa (tức là củ Địa hoàng đã được nấu chín). Cả hai vị thuốc Sinh địa và Thục địa đều nằm trong đầu vị thuốc Bắc. Trước kia ở nước ta chưa có cây Địa hoàng. Năm 1958 ta nhập giống từ Trung Quốc. Viện Dược liệu đã nghiên cứu di thực thuần hóa và đưa vào phát triển trồng đại trà. Trong thập kỷ 70, hầu như năm nào ta cũng tự trồng được Sinh địa và Thục địa, không phải nhập dược liệu từ nước ngoài nữa. Những tỉnh trước đây trồng nhiều Địa hoàng là: Hải Hưng, Hà Bắc, Hà Nam Ninh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, ngoại thành Hà Nội. Các tỉnh khác cũng có trồng nhưng ít hơn. Sau giải phóng miền Nam, Địa hoàng còn được trồng ở một số tỉnh phía Nam.

Mô tả

Địa hoàng có tên khoa học là: Rehmania Glutinosa Gaertn Libosch thuộc họ Hoa Mõm chó (Scrophulariaceae). Địa hoàng là cây thân thảo cao từ 20cm đến 40cm. Toàn cây có lông màu tro hơi trắng. Thân rễ phình thành củ, lúc đầu mọc thẳng, sau đâm ngang. Đường kính thân củ từ 1cm đến 4cm. Lá mọc vòng ở gốc. Phiến lá hình trứng ngược (đầu to ở ngoài, đầu bé ở cuống). Lá dài từ 3cm-15cm, rộng từ 1-6cm. Mép lá có răng cưa không đều, phiến lá không phẳng có nhiều gân ở mặt dưới. Hoa hình chuông mọc thành chùm ở đầu cành. Tràng dài từ 3-4cm, màu tím sẫm, mặt trong hơi vàng và lốm đốm tím. Có 4 nhị (2 lớn, 2 bé). Rất hiếm khi thấy quả.

Công dụng và liều dùng

Sinh địa
Theo YHCT, Sinh địa có vị ngọt hơi đắng, tính hàn, vào 4 kinh Tâm, Can, Thận và Tiểu trường, có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, ức chế huyết đường, lợi tiểu, mạnh tim nên thường được dùng trong các bệnh thiếu máu, suy nhược, tiểu đường, chảy máu, rong kinh. Theo Dược điển, ngày dùng 9-15g dưới dạng thuốc sắc hoặc phối hợp với các vị thuốc khác do lương y kê đơn.
Trong trường hợp thiếu máu, hành kinh gián đoạn, con gái chậm kinh hoặc hành kinh lượng ít, máu sẫm không tươi thì dùng:
Sinh địa      20g
Hối đầu thảo      10g
Sắc uống trong ngày, dùng 5 thang là khỏi.
Trường hợp bệnh nhân bị nhiệt nóng âm, gầy rộc hoặc do mất máu sinh thiếu máu, trẻ em máu nóng sinh ra mụn nhọt, nổi hạch thì dùng:
Sinh địa      20g
Huyền sâm      10g
Sắc uống trong ngày, dùng 5 thang là khỏi.
Hai công thức trên là của cố Lương y Lê Trần Đức-Viện Y học cổ truyền dùng có kết quả tốt.
Ngoài ra, trong trường hợp bệnh nhân bị đái tháo đường, gầy yếu, chậm chạp, khát nước nhiều thì dùng Sinh địa Hoàng liên hoàn (Công thức của Thiên Kim
Phương)
Sinh địa      400g
Hoàng Liên      300g
Tất cả tán nhỏ, trộn mật ong rồi viên nhỏ bằng hạt ngô. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20 viên. Dùng hết, lượng đường huyết sẽ giảm.
Thục địa

Thục địa là rễ của Địa hoàng đã được nấu chín. Song việc chế biến Thục địa rất cầu kỳ. ở Trung Quốc người ta chế theo phương thức “Cửu trưng, cửu sái” tức là chín lần nấu, chín lần phơi. Còn ở Việt nam, Dược điển quy định như sau: Sinh địa rửa sạch cho vào thùng, củ to ở dưới, củ nhỏ ở trên. Cứ 90kg Sinh địa cho 10 lít rượu 400. Đun to lửa đến khi sôi rồi tiếp tục đun nhỏ lửa trong 6-8 giờ cho đến cạn nước (trong khi đun cứ khoảng 1 giờ lại múc nước ở dưới nồi tưới lên trên cho củ chấm đều). Sau đó vớt ra phơi, rồi lại nấu. Làm như vậy 5-7 lần, tuỳ theo, đến khi dược liệu đen nhánh là được.

Thục địa vị ngọt, tính ấm, vào 3 kinh: Tâm, Can, Thận có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, bổ thận, sáng mắt, thính tai, đen râu tóc (tư dưỡng), làm cường tráng cơ thể, người lao tâm khổ tứ lo nghĩ, hoại huyết nên dùng. Liều dùng 8-16g một ngày, có thể dùng tới 40g dưới dạng thuốc sắc hoặc phối hợp với các loại thuốc khác.
Bài thuốc Tứ Vật. (Theo Thuốc  bổ cho phụ nữ) gồm:
Xuyên khung      6g
Đương quy      12g
Thục địa      12g
Bạch thược      8g
Sắc uống trong ngày; Dùng 5-10 thang.  Để chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ở rốn, đẻ xong lâu sạch, máu hôi chảy kéo dài.

Bài Lục vị Địa hoàng hoàn (Theo Trung y)
Thục địa      320g
Sơn thù du      160g
Hoài sơn      160g
Mẫu đơn bì      120g
Bạch phục linh      120g
Trạch tả      120g
5 vị ở dưới được sấy khô rồi tán thành bột. Thục địa giã cho mềm nhũn, thêm mật ong. Tất cả trộn thật đều rồi viên thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 20-30 viên (tương đương 8-12g) uống trước bữa ăn.

Chữa đau đầu, chóng mặt, cổ khô đau, miệng lưỡi lở loét, tai ù, răng lung lay, lưng đau gối mỏi, di tinh, mộng tinh, đổ mồ hôi trộm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, trẻ em gầy yếu.
Caythuocquy.info.vn
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com