Latest Post

Showing posts with label Gà Rừng. Show all posts
Showing posts with label Gà Rừng. Show all posts

Hiệu quả từ mô hình nuôi gà trên sân cát

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 10:36 PM

Hiệu quả từ mô hình nuôi gà trên sân cát

Nuôi gà trên sân cát là phương pháp nuôi gà hiệu quả, đang được nhiều hộ dân thực hiện. Sử dụng cát để làm môi trường chăn nuôi gà không những làm tăng hiệu quả phòng trừ bệnh cho gà, giảm chi phí chăn nuôi mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sạch sẽ.
Nuôi gà trên sân cát có rất nhiều lợi ích. Do cát thoát nước nhanh nên mặt sân luôn khô ráo, sạch sẽ. Khi phân gà thải ra, cát hút hết nước nên không gây mất vệ sinh. Cùng với đó, trong mùa hè, cát nóng là điều kiện thuận lợi để tiêu diệt mầm bệnh.
Không những thế, gà có đặc điểm rất thích tắm cát, vì vậy nuôi trên sân cát rất thích hợp với gà. Cát là sân chơi cho gà kiếm ăn và vận động sẽ làm cơ bắp rắn lại, thịt chắc như gà thả vườn. 
                        

Ở xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, mô hình nuôi gà trên sân cát đến nay đã mở rộng ra hơn 100 hộ. Từ nuôi gà trên sân cát, nhiều hộ đã có thể thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Gà trên cát ở Quỳnh Lâm trở thành một thương hiệu gà có chất lượng cao, có thể cung ứng cho các thị trường lớn như toàn thành phố Hà Nội, Hải Phòng…                      
Ông Lưu Bá Đông là một trong những hộ thực hiện mô hình nuôi gà trên sân cát ở xã Quỳnh Lâm. Từ nuôi gà trên sân xi măng, ông Đông chuyển sang nuôi gà trên sân cát. Cũng từ đó, gia đình ông đã thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế gia đình.  “Như trước kia khi tôi chưa làm mô hình nuôi gà trên sân cát thì mỗi khi trời mưa nước không thoát được, bệnh cầu trùng phát triển rất mạnh. Từ khi tôi làm mô hình này, tôi đã tiết kiệm được rất nhiều tiển thuốc chữa bệnh cho gà.”- Ông Đông chia sẻ. 
                 
                         Ông Đông không mất nhiều chi phí khi nuôi gà trên sân cát 
Theo kinh nghiệm của ông Đông, với mô hình nuôi gà trên sân cát thì loại gà ta sẽ thích hợp hơn gà công nghiệp, vì gà ta ưa vận động hơn. Gà như vậy cũng sẽ phát triển tốt, không bị nhiễm bệnh.
Bên cạnh những ưu điểm, sân cát cũng có nhược điểm là giữ nhiệt rất lâu, vào những ngày trời nắng, nhiệt độ sân cát rất cao có thể lên tới 40 độ C. Để khắc phục nhược điểm này bà con nên trồng cây che mát một khoảng sân mát cho gà chơi.
Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, bà con cũng cần thực hiện tốt khâu phòng bệnh. Khi chăn nuôi gà trên sân cát bà con phải thường xuyên dọn dep chuồng trại. Cứ 2-3 ngày, bà con thay chất độn chuồng và sau một năm thì bà con thay cát một lần, còn trong quá trình nuôi có thể bổ sung thêm cát sau mỗi lứa nuôi gà. Đặc biệt là phần lông gà rụng xuống phải quét bỏ, không để lưu tồn trong chuồng lâu. Vì khi đói  gà sẽ ăn lông, lâu ngày thành thói quen, khi đó gà có thể đánh nhau.
Cát dùng để làm sân nuôi gà chủ yếu là dùng cát đen, vì cát đen có giá rẻ và giữ ẩm tốt hơn cát vàng. Bà con sau khi mua cát về có thể đổ trực tiếp vào sân chuồng. Tùy vào điều kiện của gia đình, đặc điểm địa hình khu chuồng trại mà mua khối lượng cát phù hợp. Trung bình độ dày tầng cát từ 50 cm trở lên. Khu vực trũng phải đổ nhiều cát hơn khu vực có địa hình cao để sao cho độ cao từ bậc cửa chuồng xuống đến sân cát khoảng 10 cm là vừa, tránh cho gà phải vận động quá nhiều gây stress.
Cát là vật liệu có sẵn, dễ tìm dễ mua, thích hợp với nhiều địa hình khác nhau. Đặc biệt nuôi gà trên sân cát này rất phù hợp với những nơi ven sông, nguồn cát sẵn có, như vậy sẽ tiết kiệm chi phí xây dựng chuồng trại. 
                                                                                                                      Trần Hải


Hiệu quả nuôi gà ri từ 1 đến 63 ngày tuổi trên sàn lưới sắt bằng thức ăn công nghiệp

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 6, 2013 | 4:30 PM

Hiệu quả nuôi gà ri từ 1 đến 63 ngày tuổi trên sàn lưới sắt bằng thức ăn công nghiệp  
Gà ri là giống gà cổ truyền của dân tộc ta, thịt gà thơm ngon rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên, giống gà này có tầm vóc nhỏ, nếu nuôi thả vườn lại ăn thức ăn tận dụng thì 5-6 tháng tuổi gà mới đạt xấp xỉ 1kg. Để khai thác tính ưu việt của chất lượng thịt lại hạn chế được tính chậm lớn, vừa qua, tại Lạng Sơn đã tiến hành nuôi thử nghiệm:



I - Phương pháp thử nghiệm
Gà một tuổi được nuôi theo hai công thức (CT): CT1 (đối chứng) gà được nuôi thả tự do cùng gà mẹ, thức ăn là bột ngô, cám, thóc. Số lượng gồm 5 đàn gà, mỗi đàn 10 con và 1 gà mẹ. Sau 30 ngày tách mẹ. CT2 số lượng đàn như CT1 song nuôi riêng biệt từng đàn trên sàn lưới sắt, cho ăn tự do bằng thức ăn công nghiệp của Trung Quốc (tỷ lệ protein tiêu hóa 17%). Sau 30 ngày tách mẹ.
Tất cả gà con ở hai CT trên được chọn ngẫu nhiên, trọng lượng sơ sinh 30-32 gam và được nhỏ, tiêm vac xin phòng bệnh Niu Catxơn và tụ huyết trùng. Gà mẹ được tẩy giun sán.
Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 8-10 năm 1998 và được lặp lại vào năm 1999. Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học.
II. Kết quả
a. Trọng lượng qua các tuần tuổi: Gà được cân bằng cân đĩa. Trọng lượng cụ thể qua các tuần tuổi được phản ánh như sau:
ở giai đoạn 21 ngày tuổi, trọng lượng gà CT2 so với CT1 không khác biệt nhiều. Trọng lượng của nhóm gà trống CT2 lớn hơn trọng lượng nhóm gà trống ở CT1 từ 2,3-3,7%. Chỉ số này ở nhóm gà mái là 3,1-6,3%. Lên 42 ngày tuổi, sự khác biệt này lớn hơn, 11,4-13,5 đối với gà trống và 7,7-8,1% đối với gà mái. Đến cuối kỳ thí nghiệm (lúc 63 ngày tuổi) sự khác biệt rất lớn: 42,6-43,5% với nhóm gà trống và 35,5-44,6% với nhóm gà mái. Sự chênh lệch về trọng lượng lớn như vậy theo chúng tôi do gà ở CT1 nuôi thả vườn bị nhiễm giun khá nặng và đến cuối kỳ thí nghiệm thức ăn, nguồn thức ăn sâu bọ, giun mối, cỏ lá đã giảm nhiều so với trước khi thí nghiệm. Trong khi đó, gà ở CT2, ăn đầy đủ chất, lại ít mắc bệnh giun sán.
b. Tỷ lệ mắc giun sán của 2 CT thí nghiệm:
Loại giun sán
1998
1999

CT1
CT2
CT1
CT2
Số giun đũa TB/gà
75,6
100
-
80
Tỷ lệ mắc giun đũa (%)
1,5
10
-
-
Tỷ lệ gà mắc sán dây (%)
87,7
100

75
Tỷ lệ gà mắc giun kim
1,9
20
-

Số liệu ở bảng cho thấy, gà chăn thả tự do bị nhiễm giun đũa và giun kim rất nặng 75-80% số gà được mổ mắc giun kim và 100% mắc giun đũa. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bùi Lập, Dương Công Thuận. Rõ ràng với tỷ lệ và mức độ nhiễm giun như vậy đã làm gà ở CT1 chậm lớn so với gà nuôi trên lưới sắt.
c. Các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế của 2 CT thí nghiệm:
Chỉ tiêu
1998
1999

CT1
CT2
CT1
CT2
Số gà trước thí nghiệm (con)
50
50
50
50
Số gà còn lại sau thí nghiệm (con)
26
44
27
42
Tỷ lệ sống (%)
52
88
54
84
Trọng lượng TB sau thí nghiệm (g)
426
608
437
612
Tổng trọng lượng thu được (kg)
11,07
26,7
11,8
25,7
Kết quả bảng 2 cho thấy, gà con được nuôi nhốt trên nền lưới sắt có tỷ lệ sống so với tỷ lệ sống của gà nuôi thả tự do rất cao. Trọng lượng sống của gà sau thí nghiệm ở CT2 so với CT1 cũng rất cao (vượt 42,7% - 43,2%), đặc biệt, tổng trọng lượng gà thu được ở CT2 cao hơn nhiều so với CT1 117-141%. Kết quả này là do tỷ lệ nuôi sống ở nhóm CT2 cao hơn ở gà CT2 không bị hại do giun sán.
III. Kết luận.
Để nâng cao HQKT việc nuôi gà ri thả vườn cần tạo ra các con giống ban đầu với giá thành hạ, khỏe mạnh có đủ sức chống chịu với bệnh tật và rủi ro khi nuôi thả ngoài vườn, nuôi gà ri 1 ngày tuổi trên sàn lưới sắt bằng thức ăn công nghiệp đến giai đoạn 42-63 ngày tuổi có khả năng đáp ứng được yêu cầu trên.

Gà Rừng

Written By Chăn Nuôi on Saturday, May 19, 2012 | 6:57 PM


Nuôi gà rừng


Nuôi gà Rừng vừa làm cảnh vừa làm thực phẩm, là món đặc sản cao cấp. Hiện nay nhiều cơ sở trên toàn quốc đã nuôi để thành công và xuất bán con giống ra thị trường. Sau đây là một số bài đăng về chăn nuôi Gà rừng:

Trang trại nuôi gà rừng chuyên nghiệp
Anh Phạm Văn Hà (36 tuổi), ở thôn Trà Kiệu Tây, xã Duy Sơn (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) trở thành người nuôi gà rừng chuyên nghiệp, đã cung cấp cho thị trường khoảng 500 con gà rừng giống, cho doanh thu gần 200 triệu đồng. Hiện đàn gà của anh còn lại hơn 100 con lớn nhỏ và tiếp tục phát triển.
Tiếp chúng tôi trong khuôn viên trang trại, anh Hà cho biết: Vào năm 2002, một lần đi rẫy cùng gia đình, anh nhặt được 7 quả trứng gà rừng. Anh mừng quá, mang về cho gà nhà ấp. Gần 20 ngày sau, trứng nở những chú gà con nhỏ thó nhưng không kém phần xinh xắn. Do chưa có kinh nghiệm nuôi gà rừng nên 4 con đã chết, 3 con còn lại anh tiếp tục nuôi và thuần dưỡng, trong đó có 1 con gà trống.

Ban đầu vì thiếu kiến thức nên việc chăm sóc những con gà rừng của anh gặp rất nhiều khó khăn. Thông qua các phương tiện ti vi, sách báo anh tự mình học hỏi kỹ thuật chăm sóc gà rừng nên từ 3 con gà ban đầu, vài năm sau đàn gà của anh ngày một phát triển. Để có thêm nguồn gà, anh Hà tìm hỏi những người đi rừng, chăn bò chăn trâu để hỏi mua thêm trứng mỗi khi họ vô tình tìm được để đưa về cho gà rừng nhà ấp.




Rút kinh nghiệm dần, sau một năm chú tâm chăm sóc, anh có đàn gà hơn 10 con cả trống lẫn mái. Liên tục trong 2 năm sau đó, đàn gà rừng của anh phát triển lên 30 con và bắt đầu thả được vào khu đất rừng ở phía sau nhàâ. Buổi sáng mở chuồng cho gà vào rừng ăn, tối về chuồng nhốt, thời gian này cũng có mất mát gà (do không biết đường về và/hoặc bỏ đi), nhưng đến nay thì số gà bỏ đi rất ít.
Hàng ngày anh vào rừng đào những ổ mối, bắt dế, nhái cùng với ngô, lúa..., những món thức ăn đơn giản giúp gà rừng lớn rất nhanh. Để tập thói quen cho gà, cứ chiều tối hàng ngày, trước khi cho gà ăn, anh huýt sáo. Gà rừng như hiểu được tiếng người chủ nên lâu dần trở thành thói quen, càng ngày người và gà càng gần gũi nhau hơn.
Cứ mỗi chiều, anh huýt sáo để chúng bay về. Khi gà mái chạy quanh nhà tìm ổ để đẻ, anh Hà lót hai cái ổ cũng giống như ổ cho gà nhà. Sau gần 10 ngày đẻ 15 trứng, 2 con bắt đầu ấp. Trong thời gian gà mái ấp, con gà trống suốt ngày chỉ quanh quẩn trong sân nhà để canh giữ. Gần 20 ngày sau, đàn gà con đã chào đời sau hơn 6 tháng chăm sóc.
Anh Hà cho hay, lúc đầu anh chỉ nuôi gà rừng để thỏa mãn ham thích theo kiểu nuôi trồng sinh vật cảnh vốn có của anh. Song, ý tưởng phát triển mạnh chăn nuôi gà rừng để cho thu nhập khi cuối năm 2003, có nhiều người đến hỏi mua gà rừng về làm cảnh nhưng anh Hà không có đủ lượng gà để bán. Đầu năm 2004, anh bắt tay vào phát triển đàn gà rừng của mình theo hướng quy mô hơn. Đến nay anh có gần 100 con gà rừng, mỗi năm xuất bán 60 - 80 con gà trưởng thành (cả trống và mái), với giá 800.000 đồng một cặp và gà choai 500.000 đồng một cặp. Nhiều khi không có gà để bán cho khách, phải hẹn một thời gian để gà... đủ tuổi. Khách hàng của anh ở khắp nơi, nhưng nhiều nhất là từ miền Nam tìm mua về nuôi kiểng trong nhà.
Anh Hà cho biết, hiện tại trang trại có 3 con trống giống với  khoảng 20 gà mái đẻ. Tuy nhiên, còn có gà trống rừng thường hay bay về “giao lưu” với đàn gà mái nên năng suất, chất lượng gà con được cao hơn. Song, phải chú ý, gà trống rừng gặp nhau thường tranh giành lãnh địa, con mái đi đến đá nhau. Đặc điểm nhận dạng giữa gà ta và gà rừng là gà trống đến 8 tháng tuổi, tai bắt đầu trắng lên, gà mái thì tai có màu xanh, lông màu tro, cả gà trống lẫn mái chân đều có màu chì, đó là lúc gà trưởng thành. Gà trống rừng nặng tối đa khoảng trên 1 kg và gà mái khoảng 700 g.
Theo anh Hà thì nuôi gà rừng vừa dễ nhưng cũng vừa khó, nếu không có bí quyết gà sẽ bỏ vào rừng hết. Để chứng minh, anh Hà liên tục huýt sáo bằng một âm điệu “đặc trưng”, bỗng đâu gà rừng ở trong rừng có số bay, có số chạy về cả đàn, đáp xuống trước cửa chuồng. Khi gà mái làm tổ trong rừng để đẻ thì nên phá đi, vài lần như thế, gà mái sẽ về chuồng để đẻ trứng. Ngoài ra, gà rừng con phải được nuôi trong lồng cách ly với mặt đất, cho ăn mồi bằng thức ăn công nghiệp dành cho gà và thêm côn trùng, cỏ, rau. Sau 20 ngày tuổi thì ngưng cho thức ăn công nghiệp. Gà rừng đến 6 tháng tuổi là coi như trưởng thành.
Nhờ sự quan tâm, ủng hộ của Hội nông dân xã, Hợp tác xã dịch vụ và có nguồn thu từ gà rừng, anh đã mạnh dạn đầu tư 60 triệu đồng để xây dựng thêm một chuồng nuôi nhím tương đối quy mô với 13 con nhím trưởng thành. Đầu năm 2010, anh bán 2 cặp, thu về 60 triệu đồng, mở ra một hướng đi mới trong làm ăn kinh tế tại một vùng đất nghèo như ở Duy Sơn.
Trang trại nuôi gà rừng của anh Hà tuy trong giai đoạn thể nghiệm, nhưng xem ra có nhiều hiệu quả bởi tiền đầu tư giống, thức ăn, làm chuồng trại không bao nhiêu, lại thêm gà rừng có sự miễn dịch tốt, chưa thấy bệnh tật. Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ gà rừng rất mạnh nên gà anh nuôi thường không đủ bán cho người tiêu dùng. Nhiều người cho rằng: Có thể đây là trang trại nuôi gà rừng lớn nhất miền Trung. Hàng năm, anh Hà thu nhập khoảng 50 triệu đồng từ tiền bán gà rừng nuôi thả.

Chàng sinh viên mê gà rừng

Võ Duy Nghĩa đang cho gà rừng ăn

Đang là sinh viên trường cao đẳng nghề Hoàng Diệu (Đà Nẵng), Võ Duy Nghĩa đã là chủ một trang trại gà rừng được chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cấp phép chăn nuôi. Chàng sinh viên mê gà đang từng bước khẳng định thương hiệu gà rừng Nhân Nghĩa tại khu vực miền Trung.

Đam mê chẳng giống ai
Sinh ra và lớn lên dưới chân núi An Bàu thuộc thôn Tú An, xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, từ nhỏ Nghĩa đã quen với tiếng gà rừng gáy mỗi ngày. Thỉnh thoảng, Nghĩa cùng bạn bè cũng đánh bẫy được vài con và giữ lại để nuôi nhưng đều không thành công. Cứ nuôi được dăm bảy ngày thì gà chết.
Mãi sau này, Nghĩa mới nghiệm ra, gà rừng là một loài rất tinh khôn. Chúng thường đẻ ở ven những đường luồng nơi con người hay lên rừng, để tránh thú dữ ăn mất trứng. Nhưng ngược lại, chúng là loài rất nhát. Khi bị bắt, chúng sợ đến vỡ mật mà chết. Những con gà rừng mà Nghĩa đem về không sống được là vì môi trường thay đổi đột ngột, gà rừng không quen với việc bị nuôi nhốt và ăn duy nhất một loại thức ăn là lúa gạo.
Nghĩa yêu thích màu lông và vũ điệu tuyệt đẹp khi gà trống gáy và tỏ tình với gà mái, chúng nhảy rất đẹp. Sau nhiều lần thử nuôi thất bại, Nghĩa tìm cách mới: Nuôi gà không được thì nuôi trứng. Nghĩa chạy quanh huyện lùng sục hỏi mua trứng gà rừng do những người đi núi đem về rồi sau đó nhờ gà nhà ấp. Những con gà đầu tiên ra đời từ niềm đam mê đó.
Dự án mới lạ
Năm 2009, với bài dự thi “Phương pháp mới trong chăn nuôi động vật hoang dã khó tính- gà rừng”, Võ Duy Nghĩa đoạt giải nhất cuộc thi “Ý tưởng kinh doanh” của chương trình “Giáo dục kinh doanh- KAB” trong khuôn khổ dự án “Thị trường lao động” do Liên minh Châu Âu tài trợ. Lần đầu tiên dự án được triển khai thực hiện tại TP Đà Nẵng do tổ chức Lao động Quốc tế và Bộ LĐ-TB&XH quản lý. 
Khi những con gà rừng đầu tiên bắt đầu trưởng thành cũng là lúc Nghĩa có ý định thuần hóa gà rừng và nuôi với quy mô lớn ngay tại khu vườn rộng hơn 1 ha. Nghĩa hiểu được một số tập tính sinh hoạt của gà rừng từ thực tế và tìm hiểu qua sách báo. Hễ nghe nói ở đâu nuôi thành công gà rừng là Nghĩa tìm đến học hỏi kinh nghiệm và mua vài con về làm giống.
Nghĩa nài nỉ cha mẹ thế chấp sổ đỏ vay tiền ngân hàng cộng với việc bán những cây quế trong vườn nhà, Nghĩa thu được một số tiền kha khá để xây dựng chuồng trại, mua con giống và trang thiết bị phục vụ việc nuôi gà.
Nhưng mọi chuyện không đơn giản, Nghĩa thất bại liên miên vì gà vẫn còn tính rừng, thường đẻ trong bụi rậm và giấu trứng rất khéo. Hơn nữa, việc ấp trứng của gà rừng cũng khác nhiều so với gà nhà và nhiều yêu cầu ngoại cảnh khác của gà rừng. Những lứa gà đầu tiên không có lãi bởi gà đẻ rất ít, lại chịu hao hụt trong quá trình ấp và nuôi gà con.
Càng nuôi, càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Hiện nay, trang trại gà rừng của Nghĩa đã có hơn 500 con lớn nhỏ. Trong đó có khoảng 100 gà sinh sản. Mỗi tháng cung cấp cho thị trường hơn 200 gà giống, gà chơi cảnh và gà thương phẩm. Thu nhập sau khi trừ chi phí hơn 10 triệu đồng/ tháng.
Hiện tại, Nghĩa có kế hoạch phát triển các giống gà rừng quý hiếm với mục đích vừa bảo tồn vừa cung cấp gà nuôi cảnh cho những người có nhu cầu.
Hiện nay chúng tôi có bán giông chuẩn của Viện chăn nuôi và Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã đã có giấy kiểm lâm và tiêm phòng. Bà con muốn mua con giống, hãy liên hệ với bộ phẫn hộ trợ khách hàng !
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com