Latest Post

Showing posts with label Gà H'mông. Show all posts
Showing posts with label Gà H'mông. Show all posts

Hiệu quả từ mô hình nuôi gà trên sân cát

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 10:36 PM

Hiệu quả từ mô hình nuôi gà trên sân cát

Nuôi gà trên sân cát là phương pháp nuôi gà hiệu quả, đang được nhiều hộ dân thực hiện. Sử dụng cát để làm môi trường chăn nuôi gà không những làm tăng hiệu quả phòng trừ bệnh cho gà, giảm chi phí chăn nuôi mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sạch sẽ.
Nuôi gà trên sân cát có rất nhiều lợi ích. Do cát thoát nước nhanh nên mặt sân luôn khô ráo, sạch sẽ. Khi phân gà thải ra, cát hút hết nước nên không gây mất vệ sinh. Cùng với đó, trong mùa hè, cát nóng là điều kiện thuận lợi để tiêu diệt mầm bệnh.
Không những thế, gà có đặc điểm rất thích tắm cát, vì vậy nuôi trên sân cát rất thích hợp với gà. Cát là sân chơi cho gà kiếm ăn và vận động sẽ làm cơ bắp rắn lại, thịt chắc như gà thả vườn. 
                        

Ở xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, mô hình nuôi gà trên sân cát đến nay đã mở rộng ra hơn 100 hộ. Từ nuôi gà trên sân cát, nhiều hộ đã có thể thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Gà trên cát ở Quỳnh Lâm trở thành một thương hiệu gà có chất lượng cao, có thể cung ứng cho các thị trường lớn như toàn thành phố Hà Nội, Hải Phòng…                      
Ông Lưu Bá Đông là một trong những hộ thực hiện mô hình nuôi gà trên sân cát ở xã Quỳnh Lâm. Từ nuôi gà trên sân xi măng, ông Đông chuyển sang nuôi gà trên sân cát. Cũng từ đó, gia đình ông đã thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế gia đình.  “Như trước kia khi tôi chưa làm mô hình nuôi gà trên sân cát thì mỗi khi trời mưa nước không thoát được, bệnh cầu trùng phát triển rất mạnh. Từ khi tôi làm mô hình này, tôi đã tiết kiệm được rất nhiều tiển thuốc chữa bệnh cho gà.”- Ông Đông chia sẻ. 
                 
                         Ông Đông không mất nhiều chi phí khi nuôi gà trên sân cát 
Theo kinh nghiệm của ông Đông, với mô hình nuôi gà trên sân cát thì loại gà ta sẽ thích hợp hơn gà công nghiệp, vì gà ta ưa vận động hơn. Gà như vậy cũng sẽ phát triển tốt, không bị nhiễm bệnh.
Bên cạnh những ưu điểm, sân cát cũng có nhược điểm là giữ nhiệt rất lâu, vào những ngày trời nắng, nhiệt độ sân cát rất cao có thể lên tới 40 độ C. Để khắc phục nhược điểm này bà con nên trồng cây che mát một khoảng sân mát cho gà chơi.
Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, bà con cũng cần thực hiện tốt khâu phòng bệnh. Khi chăn nuôi gà trên sân cát bà con phải thường xuyên dọn dep chuồng trại. Cứ 2-3 ngày, bà con thay chất độn chuồng và sau một năm thì bà con thay cát một lần, còn trong quá trình nuôi có thể bổ sung thêm cát sau mỗi lứa nuôi gà. Đặc biệt là phần lông gà rụng xuống phải quét bỏ, không để lưu tồn trong chuồng lâu. Vì khi đói  gà sẽ ăn lông, lâu ngày thành thói quen, khi đó gà có thể đánh nhau.
Cát dùng để làm sân nuôi gà chủ yếu là dùng cát đen, vì cát đen có giá rẻ và giữ ẩm tốt hơn cát vàng. Bà con sau khi mua cát về có thể đổ trực tiếp vào sân chuồng. Tùy vào điều kiện của gia đình, đặc điểm địa hình khu chuồng trại mà mua khối lượng cát phù hợp. Trung bình độ dày tầng cát từ 50 cm trở lên. Khu vực trũng phải đổ nhiều cát hơn khu vực có địa hình cao để sao cho độ cao từ bậc cửa chuồng xuống đến sân cát khoảng 10 cm là vừa, tránh cho gà phải vận động quá nhiều gây stress.
Cát là vật liệu có sẵn, dễ tìm dễ mua, thích hợp với nhiều địa hình khác nhau. Đặc biệt nuôi gà trên sân cát này rất phù hợp với những nơi ven sông, nguồn cát sẵn có, như vậy sẽ tiết kiệm chi phí xây dựng chuồng trại. 
                                                                                                                      Trần Hải


Cách nuôi gà thả vườn

Written By Chăn Nuôi on Wednesday, June 5, 2013 | 1:27 AM

Hướng dẫn cách nuôi gà thả vườn, cách chăm sóc, chế độ dinh dưỡng và phòng bệnh.



Chuẩn bị điều kiện nuôi

  • 1
    Chuồng trại:
    • Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
    • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
    • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
      Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
    • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.
  • 2
    Lồng úm gà con:
    • Kích thước 2m x 1 m cao chân 0,5 m đủ nuôi cho 100 con gà.
    • Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
  • 3
    Máng ăn:
    • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
    • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
    • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
  • 4
    Máng uống:
    • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn.
    • Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
  • 5
    Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà:
    • Gà rất thích tắm cát.
    • Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2 m, rộng 1 m, cao 0,3 m cho 40 gà.
    • Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
  • 6
    Dàn đậu cho gà:
    • Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
    • Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5 m, cách nhau 0,3-0,4 m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
    • Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
    • Vườn chăn thả: 1m2/1 con gà.

Chọn giống

  • 1
    Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng.....
    Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri....
  • 2
    Chọn giống gà con:
    • Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
    • Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
    • Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
  • 3
    Chọn gà đẻ tốt:
    • Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6 - 1,7 kg thì rất tốt.
    • Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
    • Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
    • Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
    • Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.

Chăm sóc và nuôi dưỡng

  • 1
    Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
  • 2
    Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
  • 3
    Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi. Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
  • 4
    Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn. Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
  • 5
    Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
  • 6
    Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.
    Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

Thức ăn cho gà

  • 1
    Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.
  • 2
    Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
  • 3
    Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
  • 4
    Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
  • 5
    Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà. Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
  • 6
    Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
  • 7
    Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.

Phòng bệnh

  • 1
    Vệ sinh phòng bệnh:
    • Thức ăn tốt.
    • Nước sạch.
    • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
    • Chuồng nuôi sạch.
    • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
    • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
  • 2
    Phòng bằng Vaccine:
    • Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
    • Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
    • Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
    • Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
  • 3
    Phòng bằng thuốc:
    • Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol...
    • Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,...
  • 4
    Phòng một số bệnh:
    • 1 ngày, bệnh Marek, Rumboro, dịch tả, phương thức: nhúng ngập mũi.
    • 10 ngày, bệnh Gumboro, phương thức: nhỏ mũi.
    • 10 ngày, bệnh đậu, phương thức: xuyên da cánh.
    • 21 ngày, bệnh dịch tả, phương thức: nhỏ mũi, uống.
    • 28 ngày, bệnh Gumboro, phương thức: nhỏ mũi, uống.
    • 56 ngày, bệnh dịch tả, phương thức: uống.
    • 105 ngày, bệnh CRD, phương thức: chích bắp.

Một số bệnh thường gặp ở gà

  • 1
    Bệnh cầu trùng:
    Nguyên nhân:
    • Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do người ta, súc vật... vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.
    • Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
    • Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền.
    Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
    Bệnh tích: Manh tràng sưng to, chân đầy máu. Ruột sưng to. Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu.
    Phòng bệnh:
    • Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
    • Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà.
    • Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước, Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
    Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi liều phòng
  • 2
    Bệnh thương hàn (Salmonellosis):
    Nguyên nhân: Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh.
    Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
    Bệnh tích:
    • Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
    • Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó.
    Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh:
    • Oxytetracyclin: 50-80 mg /gà/ngày, dùng trong 5 ngày.
    • Chloramphenical: 1 gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
    Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh.
  • 3
    Bệnh dịch tả (Newcastle disease):
    Nguyên nhân: Bệnh do virus gây, lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi. Gà mọi lứa tuổi đều mắc bệnh.
    Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: cấp tính và mãn tính.
    Thể cấp tính:
    • Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết.
    • Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
    • Tiêu chảy phân màu xanh - trắng, diều căng đầy hơi.
    • Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
    • Nếu sau 4-5 ngày gà không chết, sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững.
    • Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%.
    Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
    Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus. Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.
    Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
    Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng: Vitamix, vit-plus,...
  • 4
    Bệnh Gumboro:
    Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.
    Triệu chứng:
    • Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
    • Gà sút nhanh, run rẩy.
    • Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.
    • Tỷ lệ chết: 10-30%.
    • Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
    Bệnh tích:
    • Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt.
    • Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.
    • Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
    • Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.
    • Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
    Phòng bệnh bằng vệ sinh:
    • Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.
    • Phòng bằng vaccine.
    Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị. Chỉ dùng thuốc tăng sức đề kháng vật nuôi.
    • Vitamix: 2 gr/1 lít nước.
    • Vitamine C: 1 gr/ 1 lít nước.
    • Dexa (0,5 gr): 1 viên/ 3-4 con.
    • Dùng trong 3 ngày liên tục.


Gà H’Mông

Written By Chăn Nuôi on Tuesday, May 29, 2012 | 1:44 AM


Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà H’Mông thương phẩm  

1. Giới thiệu giống gà H’Mông
Gà H’Mông có nguồn gốc ở các vùng núi cao có đồng bào người H’Mông và các dân tộc thiểu số sinh sống.


Gà H’Mông có nhiều loại hình màu lông, tuy nhiên phổ biến là 3 màu: Hoa mơ, đen, trắng tuyền.

Đặc điểm nổi bật nhất của gà H’Mông là xương đen, thịt đen, phủ tạng đen và da ngăm đen (màu chì) chân đen 100%. Phân bố ở các tỉnh miền núi phía bắc là chính như: Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang và Nghệ An.
Qua nghiên cứu chọn lọc nhân thuần 3 thế hệ gà H’Mông (nguồn gốc từ Sơn La) tại Viện Chăn Nuôi đến nay đã gây dựng được đàn gà H’Mông giống gốc cung cấp gà bố mẹ và gà thương phẩm nuôi thịt cho người chăn nuôi mang những đặc điểm đặc trưng như ở trên.
Năng suất sinh sản của gà H’Mông:
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên        : 133 – 141 ngày
Tuổi đẻ đạt 30%                                   : 22 – 23 tuần
Tuổi đẻ đạt 40%                                   : 25 – 26 tuần
Tuổi đẻ đạt đỉnh cao                 : 31 – 32 tuần
Khối lượng cơ thể 20 tuần tuổi  : Gà trống 1423 – 1450g
                                                    : Gà mái 1214 – 1250g
Sản lượng trứng/mái/40 tuần đẻ : 73,81(q)
Tỷ lệ trứng giống(%)                 : 92 – 94%
Tỷ lệ phôi (%)                          : 96,42 – 96,47%
Tỷ lệ nở/tổng trứng ấp (%)        : 77,83 – 79,36%
Tỷ lệ nuôi sống (%)                   : 92,02 – 95,65
Thức ăn bình quân giai đoạn đẻ : 100 – 110g/con/ngày
Đối với gà H’Mông thương phẩm (nuôi 12 tuần tuổi)
Tỷ lệ nuôi sống (%)                                           : 94,63 – 97,30%
Khối lượng cơ thể (g)                                        : 1090 – 1138 g/con
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng k.lượng cơ thể (g)        : 2,90 – 3,21
2. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà H’Mông thương phẩm
2.1. Yêu cầu chung về chuồng trại
Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cách các trại nuôi gia cầm, gia súc khác càng xa càng tốt nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro do lây nhiễm chồng chéo.
Thiết kế mái chuồng rất quan trọng để mùa đông giữ được ấm, mùa hè phản xạ nhiệt của ánh nắng mặt trời giữ được mát mẻ. Mái hiên có thể đua ra 1 – 1,2 mét để hạn chế lượng ánh nắng chiếu trực tiếp vào chuồng. Nền láng xi măng hoặc gạch phẳng có độ dốc cần thiết 3 – 5O tiện cho việc vệ sinh. Mặt khác phải đảm bảo thực hiện được biện pháp an toàn sinh học.
2.2. Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
Trước khi đưa gà vào nuôi dù quy mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng uống, chất độn chuồng, tiêu độc khử trùng và chọn người nuôi (kinh nghiệm của người chăn nuôi).

+ Chuồng trại:
Chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi phải được cọ rửa sạch sẽ, để trống chuồng trước khi đưa gà vào nuôi 15 – 20 ngày và phải được xử lý theo đúng quy định về vệ sinh phòng dịch, tường, nền được quét nước vôi đặc nồng độ 40%. sau đó để khô phun tiêu độc bằng xút 2% (NaoH) với liều 1 lít/m2 hoặc bằng các loại thuốc sát trùng khác như Foocmol 3% phun 2 – 3 lần (chú ý phun phải kéo rèm che, đóng cửa sau 5 – 8h mới mở ra để tăng tác dụng diệt khuẩn). Trước khi thả gà vào nuôi 1 – 2 ngày phun tẩy uế lại bằng Formalin 3% và đậy kín cửa, rèm che. Sau khi phun 5h mở cửa, rèm che cho thông thoáng bay hết mùi thuốc sát trùng rồi mới thả gà.
+ Máng ăn:
2 tuần đầu có thể dùng mẹt tre hoặc khay tôn (kích thước 60 x 80 x 2,5cm cho 80 – 100 gà). Từ tuần tuổi thứ 3 trở đi dùng máng ăn (có thể là máng dài hoặc máng tròn).
Máng dài có thiết diện hình thang, đáy nhỏ từ 5 – 8 cm miệng rộng 7 – 13 cm, chiều dài của máng 1 – 1,5 mét, cao 4 – 8 cm có đế vững chắc tránh rơi vãi thức ăn.
Máng tròn có thể bằng nhựa hoặc bằng tôn làm theo kiểu máng P50 Hunggari nâng dần độ cao của máng theo tuổi của gà.
+ Máng uống:
Có nhiều loại song tuỳ thuộc điều kiện từng nơi, từng vùng mà áp dụng cho phù hợp và kinh tế. Thông thường dùng máng tròn (gallon) gồm phần đáy và thân nắp vào nhau làm bằng nhựa, thể tích máng uống tuỳ theo tuổi gà: Gà con 1,5 – 2 lít, gà dò hậu bị và sinh sản 4 – 8 lít.
Máng uống dài có độ dài tương đương máng ăn nhưng thiết diện nhỏ hơn.
+ Chụp sưởi:
   Gà con sau khi nở ra chưa có khả năng điều tiết thân nhiệt do đó phải có hệ thống chụp sưởi để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi chúng có khả năng điều tiết được thân nhiệt phù hợp với nhiệt độ môi trường, có thể dùng dây mayso, bóng điện hoặc đèn hồng ngoại tuỳ theo số lượng gà con 01 ngày tuổi mà bố trí hệ thống sưởi cho hợp lý và hiệu quả kinh tế.
+ Rèm che:
Dùng vải bạt, bạt dứa hoặc có thể tận dụng bao tải dứa khâu lại thành rèm che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắt vào chuồng, có thể dùng cót ép hoặc phên liếp che chắn lại.
+ Quây gà:
Trong thời gian úm gột, để tập trung nguồn nhiệt tránh gió lùa sử dụng cót ép, tấm nhựa làm quây úm với chiều cao 50 – 60 cm, mỗi quây có đường kính 2,0 – 2,5 m. Quây này dùng để úm gà con trong 14 ngày đầu, mỗi quây như vậy có thể úm từ 150 – 200 gà.
+ Độn chuồng:
Yêu cầu chất độn chuồng phải có khả năng hút ẩm, có thể dùng phoi bào, trấu, rơm rạ băm nhỏ. Lưu ý chất độn phải được phơi khô không có mùi mốc, phun sát trùng bằng Foocmol 2%.
Gà H’Mông có tốc độ sinh trưởng chậm nên giai đoạn gà con được tính từ 1 – 63 ngày tuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nội tạng nhất là bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện, dạ dày cơ chưa tiêu hoá được các loại thức ăn xơ cứng, men tiêu hoá chưa đầy đủ, gà rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh do đó phải tạo điều kiện tốt để gà phát triển nhanh và khoẻ mạnh.
2.3. Chọn gà con giống
Chọn những gà con nhanh nhẹn, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập mạp, khối lượng gà 30 – 34g là đạt yêu cầu. Loại ngay những gà khô chân, vẹo mỏ, khèo chân, hở rốn, bụng nặng, lông bết.
2.4. Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh thân nhiệt một cách hoàn hảo, do đó các bệnh về đường hô hấp, tiêu hoá dễ phát sinh khi ẩm độ môi trường lên cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà.

Bảng 1: Yêu cầu nhiệt độ và ẩm độ


Ngày tuổi
Nhiệt độ tại chụp sưởi 0o C
Nhiệt độ chuồng nuôi 0oC
ẩm độ tương đối (%)
0 - 3
38
28 – 29
60 - 70
4 - 7
35
28
8 - 14
32
28
15 - 21
29
25 – 28
22 – 24
28
25 – 28
25 – 28
28
22 – 25
29 - 35
26
21 – 22

Sau 35 ngày tuổi

18 - 21


Từ tuần tuổi thứ 3 cần chú ý đến tốc độ mọc lông ở gà để điều chỉnh nhiệt độ cho thích hợp.
Trong quá trình nuôi phải quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ:
- Nếu thấy gà tập trung gần nguồn nhiệt, chen lấn chồng đống lên nhau là chuồng nuôi không đủ nhiệt gà bị lạnh.
Nếu gà tản ra xa nguồn nhiệt, nháo nhác, kêu, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải điều chỉnh giảm nhiệt độ.
- Nếu gà tụm lại một phía là bị gió lùa rất nguy hiểm, cần che kín hướng gió thổi.
Khi đủ nhiệt, gà vận động ăn uống bình thường, ngủ, nghỉ tản đều trong quây.
Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu, sau 4 – 6 tuần giảm thời gian chiếu sáng đến 16h, từ tuần thứ 7 – 9 lợi dụng ánh sáng tự nhiên, đảm bảo cường độ ánh sáng 3W/m2 là đủ.
2.5. Nước uống
Nước là nhu cầu đầu tiên của gà khi mới xuống chuồng. Cần cung cấp nước sạch, tốt nhất là pha thêm 5g đường Gluco và 1g Vitamin C/lít nước cho những ngày đầu, nước uống cho gà không được lạnh tốt nhất là hơi ấm 18 – 21 0C trong vài ngày đầu.
Sử dụng chụp nước tự động bằng nhựa 0,85 – 1 lít/50 gà con hoặc 3,8 lít/100 gà con. Vị trí đặt máng uống phải bố trí cho gà con dễ tiếp cận và không bị máng ăn che khuất. Tuân thủ cho gà uống nước trước, sau 2 – 3 giờ mới cho thức ăn.
2.6. Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
Trong chăn nuôi gia cầm chăn thả lấy thịt, việc chăm sóc, nuôi dưỡng thoả mãn đầy đủ các nhu cầu sinh lý đòi hỏi phát triển cơ thể gà ở mỗi giai đoạn sẽ khai thác tối đa tiềm năng di truyền của giống, đạt nhanh đến khối lượng giết mổ càng sớm càng tốt.
Gà H’Mông chăn thả lấy thịt được chia ra các giai đoạn 0 – 4 tuần tuổi; 5 – 8 tuần tuổi và 9 → giết mổ.
Nhu cầu dinh dưỡng cho gà H’Mông thương phẩm nuôi thịt
Bảng 2: Chế độ dinh dưỡng cho gà H’Mông thương phẩm

Chỉ tiêu
Giai đoạn
0 – 4 tuần tuổi
5 – 8 tuần tuổi
9 tuần → giết mổ
N.lượng trao đổi ME (KCalo/kgTĂ)
2900
2950
3100
Protein thô(CP)    (%)
19,0
18
16
ME/CP
152,63
163,89
193,75
Canxi                   (%)
1,2
1,19
1,18
Photpho tổng số   (%)
0,77
0,76
0,78
Lyzin(%)
1,08
1,05
0,97
Methionin            (%)
0,42
0,39
0,38
NaCl tổng số        (%)
0,32
0,33
0,31

Sau khi gà được uống nước 2 – 3 giờ thì mới cho ăn, thường cho ăn theo bữa. Thức ăn được trải đều vào nhiều khay tuỳ thuộc quy mô đàn để tránh sự tranh giành thức ăn giữa các con trong đàn. Chỉ nên cung cấp lượng thức ăn vừa đủ, một ngày đêm cho ăn 9 – 10 lượt để thức ăn luôn mới thơm, hấp dẫn tính ngon miệng và tránh lãng phí.
Một số điều cần lưu ý: Thức ăn được phối chế cân đối đảm bảo đủ dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của gà trong giai đoạn.
Khẩu phần ăn có thể phối chế đa nguyên liệu, sử dụng thức ăn bổ sung động vật, thực vật, Premix khoáng vi lượng và Vitamin.
- Không sử dụng các nguyên liệu bị mốc, hoặc bột cá mặn (có hàm lượng muối cao), đỗ tương phải rang chín.
* Khẩu phần thức ăn được cân đối đủ các chất dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn nuôi, thức ăn phối chế đa nguyên liệu, sử dụng đạm nguồn gốc động vật, thực vật, Premix Vitamin, khoáng vi lượng v.v.
Không được dùng nguyên liệu bị mốc, nhiễm độc tố Afratoxin hoặc bột cá có hàm lượng muối cao.
Dùng đậu tương phải rang chín gà mới tiêu hoá được, nếu chín không đều gà ăn vào sẽ bị rối loạn tiêu hoá (đi ỉa).
2.7. Mật độ
Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại, mùa vụ, khí hậu mà quyết định mật độ đàn nuôi. Cần lưu ý trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ càng thấp sẽ cho khả năng tăng trưởng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh thấp.
Nuôi nền sử dụng chất độn:
1 – 7 tuần         : 15 – 20 con/m2
8 – xuất bán     : 8 – 10 con/m2
Nuôi trên sàn:
1 – 3 tuần         : 40 – 50 con/m2
4 – xuất bán     : 12 – 15 con/m2
Ngoài ra có thể nuôi theo phương thức chăn thả, các khâu chuẩn bị chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, chọn gà giống 01 ngày tuổi, nhiệt độ, ẩm độ, chiếu sáng v.v. cũng giống như nuôi theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn. Song cần phải có thêm vườn rộng để thả gà cho vận động khi gà được 4 – 5 tuần tuổi vào mùa hè và 7 – 8 tuần tuổi vào mùa đông. Trước khi thả phải chọn ngày thời tiết tốt thả gà ra 2 – 3 giờ cho gà tập làm quen với môi trường trong 3 – 5 ngày rồi mới thả cả ngày.
Gà được thả ra sẽ tự kiếm thêm mồi (sâu bọ, giun, dế, cào cào, châu chấu, thóc rơi vãi v.v.) ngoài ra bổ sung thêm rau xanh, cỏ, cơm thừa, củ quả ... như thế có thể giảm được 20 – 25% lượng thức ăn so với phương thức nuôi nhốt tuỳ thuộc vào lượng thức ăn sẵn có. Mặt khác gà được vận động sẽ tăng cường được sức kháng bệnh.
2.8. Thông thoáng
   Chuồng úm gà con 01 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần như bằng không. Khoảng 3 ngày sau khi sự trao đổi chất của gà tăng nhanh cần phải thay đổi không khí với tốc độ 0,2 m/giây để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm gà chậm phát triển và bệnh tật phát sinh như bệnh cầu trùng và các bệnh về đường hô hấp.
2.9. Vệ sinh phòng bệnh
Với phương châm phòng bệnh là chính, đảm bảo nghiêm ngặt những quy định về vệ sinh phòng bệnh, sử dụng quy trình vệ sinh phòng bệnh tuỳ thuộc vào tình hình dịch tễ của từng địa phương. Phải quan sát theo dõi gà thường xuyên như: Trạng thái ăn, ngủ, thể trạng, âm thanh tiếng thở, chất bài tiết v.v. để bất kỳ một dấu hiệu bất thường nào đều được xử lý kịp thời.
Cần thiết phải kiểm tra đàn gà dựa trên các đặc điểm hàng ngày như sau:
-         Lắng nghe âm thanh bất thường hoặc thiếu vắng âm thanh hàng ngày
-         Trạng thái đàn gà (uể oải hay hung hăng)
-         Ngửi để xem có mùi khai hay sự kém thông thoáng.
Trong chuồng chỉ nên nuôi gà cùng một lứa tuổi, không nuôi động vật khác như chó, mèo trong trại..... định kỳ diệt trừ các loài động vật gặm nhấm, chim hoang và côn trùng có hại khác.
2.10. Chăm sóc nuôi dưỡng
Chế độ chăm sóc quản lý như nuôi gà sinh sản. Gà được cho ăn tự do 24h/24h, ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, đêm thắp điện sáng để gà ăn đêm. Trong điều kiện thời tiết và nhiệt độ thuận lợi (ấm áp khô ráo). Sau 3 – 4 tuần tuổi nếu thời tiết lạnh dưới 200C thì sau 5 – 6 tuần tuổi có thể cho gà vận động để giúp cơ săn chắc nâng cao chất lượng thịt.
                                                                                                          
3. Một số khẩu phần tham khảo

Chỉ tiêu
Giai đoạn
0 – 4 tuần tuổi
5 – 8 tuần tuổi
9 tuần → giết mổ
Ngô
46
51
59
Cám gạo
20
18,3
12,3
Khô đỗ tương
14
11
12
Proconco C20 hoặc Guyo 20
8
7
6
Bột cỏ keo dậu
2
2
2
Bột cá nhạt loại I
6
6
4
Premix Vitamin
0,3
0,3
0,3
Premix khoáng
1,0
1,9
1,9
Bột xương
2,4
2,2
2,2
Methionin
0,2
0,2
0,2
Lyzin
0,1
0,1
0,1
Tổng
100
100
100
Giá trị dinh dưỡng
N.lượng trao đổi ME (KCalo/kgTĂ)
2900
2950
3100
Protein thô(CP)    (%)
19
18
16
ME/CP
152,63
163,88
193,75
Canxi                   (%)
1,20
1,19
1,18
Photpho tổng số   (%)
0,77
0,76
0,78
Methionin            (%)
0,42
0,39
0,38
Lyzin                    (%)
1,08
1,05
0,97
NaCl tổng số        (%)
0,32
0,33
0,31

4. Lịch dùng thuốc và vacin cho gà H’Mông thương phẩm

 Lịch dùng vacxin phòng bệnh cho gà H’ Mông

Ngày tuổi
Loại vacxin, thuốc dùng và cách sử dụng
Phòng bệnh
1
Marek ( tiêm dưới da đầu)
Bệnh marek
5
Lasota lần1 (tuỳ theo loại vacxin)
 Viêm PQTN – IB lần 1
(Nhỏ 2 – 4 giọt vào mắt, mũi tuỳ theo lượng nước pha)
Phòng bệnh newcastle, viêm phế  quản  truyền nhiễm.

7
Gumboro lần1 (tuỳ theo loại vacxin)
(Nhỏ 2 – 4 giọt vào mắt, mũi tuỳ theo lượng nước pha)
Đậu gà  (chủng vào màng cánh)
Phòng bệnh gumboro


Phòng bệnh đậu gà
21
Gumboro lần2 (tuỳ theo loại vacxin)
Viêm PQTN- IB lần 2 (tuỳ theo loại vacxin)
(Nhỏ mắt, mũi hoặc pha nước cho uống trong 1 giờ)
Phòng bệnh Gumboro
Phòng Viêm phế quản truyền nhiễm
28
Lasota lần 2 (tuỳ theo loại vacxin)
(Nhỏ mắt, mũi hoặc pha nước cho uống trong 1 giờ)
Phòng bệnh newcastle
( Bệnh Gà rù ) 
56
Neucastle Hệ1 (Tiêm dưới da cánh 0,2-0,5ml/con tuỳ lượng nước pha )

 Phòng bệnh newcastle


120
Vacxin  đậu gà lần 2
(Pha 2ml nước cất cho 100 liều chủng vào màmg cánh)
Phòng bệnh đậu gà trước khi lên đẻ
126
Vacxin vô hoạt nhũ dầu phòng NCS, Gumboro, Viêm PQTN
(tiêm dưới da đầu 0,2 ml/ con)
Phòng bệnh newcastle, gumboro, viêm phế quản TN

Lịch dùng thuốc phòng bệnh cho gà H’ Mông

Ngày tuổi
thuốc dùng và cách sử dụng
Liều lượng
Phòng bệnh
1 –4
Octamix-AC
 Đường Glucoza
  VitaminC +Bcomplex
 (Pha nước uống cho uống liên tục)
0,5g/ lít nước
5g/ lít nước
1g/ lít nước
Phòng bệnh đường ruột, hô hấp, tăng sức đề kháng
7
Uống Vitamin C+ Bcomplex
(Pha nước uống cho uống liên tục)

Tăng sức đề kháng chống stress tiêm chủng
10- 12
Tylosin
 Multivitamin  hoặc Bcomplex+ C
(Pha nước uống cho uống liên tục)
0,5g/lít nước
1g/ lít nước
Phòng bệnh CRD tăng sức đề kháng
14
VitaminC + Bcomplex

1g/ lít nước
Chống stress tiêm chủng
16 – 20
Bổ sung men tiêu hoá vào thức ăn
(Trộn vào thức ăn cho gà ăn)
theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột
24-26
ESB3 30% (ngoại)
Multivitamin
(Pha nước uống cho uống liên tục)
1g/ lít nước
1g/ lít nước
Phòng bệnh cầu trùng
56
 Multivitamin
(Pha nước uống cho uống liên tục)
1g/ lít nước
Chống Stress tiêm chủng
60
Piperazin hoặc Amirazin
(Trộn vào thức ăn cho gà ăn)
50g/tạ thức ăn
Tẩy giun sán
60-140
Ampicoli hoặc oxyteracilin
(uống định kỳ 3 –5  ngày/ tháng)
60 –100 mg/kg thể trọng
Phòng bạch lỵ, CRD, tụ huyết trùng
Đối với gà nuôi thương phẩm  chỉ nuôi đến 12 tuần chỉ sử dụng lịch phòng bệnh đến 56 ngày, không phải tiêm marek lúc 1ngày tuổi.


 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com