Latest Post

Showing posts with label Gà Đông Tảo( Đông Cảo). Show all posts
Showing posts with label Gà Đông Tảo( Đông Cảo). Show all posts

Hiệu quả từ mô hình nuôi gà trên sân cát

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 14, 2013 | 10:36 PM

Hiệu quả từ mô hình nuôi gà trên sân cát

Nuôi gà trên sân cát là phương pháp nuôi gà hiệu quả, đang được nhiều hộ dân thực hiện. Sử dụng cát để làm môi trường chăn nuôi gà không những làm tăng hiệu quả phòng trừ bệnh cho gà, giảm chi phí chăn nuôi mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sạch sẽ.
Nuôi gà trên sân cát có rất nhiều lợi ích. Do cát thoát nước nhanh nên mặt sân luôn khô ráo, sạch sẽ. Khi phân gà thải ra, cát hút hết nước nên không gây mất vệ sinh. Cùng với đó, trong mùa hè, cát nóng là điều kiện thuận lợi để tiêu diệt mầm bệnh.
Không những thế, gà có đặc điểm rất thích tắm cát, vì vậy nuôi trên sân cát rất thích hợp với gà. Cát là sân chơi cho gà kiếm ăn và vận động sẽ làm cơ bắp rắn lại, thịt chắc như gà thả vườn. 
                        

Ở xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, mô hình nuôi gà trên sân cát đến nay đã mở rộng ra hơn 100 hộ. Từ nuôi gà trên sân cát, nhiều hộ đã có thể thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Gà trên cát ở Quỳnh Lâm trở thành một thương hiệu gà có chất lượng cao, có thể cung ứng cho các thị trường lớn như toàn thành phố Hà Nội, Hải Phòng…                      
Ông Lưu Bá Đông là một trong những hộ thực hiện mô hình nuôi gà trên sân cát ở xã Quỳnh Lâm. Từ nuôi gà trên sân xi măng, ông Đông chuyển sang nuôi gà trên sân cát. Cũng từ đó, gia đình ông đã thuận lợi hơn trong phát triển kinh tế gia đình.  “Như trước kia khi tôi chưa làm mô hình nuôi gà trên sân cát thì mỗi khi trời mưa nước không thoát được, bệnh cầu trùng phát triển rất mạnh. Từ khi tôi làm mô hình này, tôi đã tiết kiệm được rất nhiều tiển thuốc chữa bệnh cho gà.”- Ông Đông chia sẻ. 
                 
                         Ông Đông không mất nhiều chi phí khi nuôi gà trên sân cát 
Theo kinh nghiệm của ông Đông, với mô hình nuôi gà trên sân cát thì loại gà ta sẽ thích hợp hơn gà công nghiệp, vì gà ta ưa vận động hơn. Gà như vậy cũng sẽ phát triển tốt, không bị nhiễm bệnh.
Bên cạnh những ưu điểm, sân cát cũng có nhược điểm là giữ nhiệt rất lâu, vào những ngày trời nắng, nhiệt độ sân cát rất cao có thể lên tới 40 độ C. Để khắc phục nhược điểm này bà con nên trồng cây che mát một khoảng sân mát cho gà chơi.
Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, bà con cũng cần thực hiện tốt khâu phòng bệnh. Khi chăn nuôi gà trên sân cát bà con phải thường xuyên dọn dep chuồng trại. Cứ 2-3 ngày, bà con thay chất độn chuồng và sau một năm thì bà con thay cát một lần, còn trong quá trình nuôi có thể bổ sung thêm cát sau mỗi lứa nuôi gà. Đặc biệt là phần lông gà rụng xuống phải quét bỏ, không để lưu tồn trong chuồng lâu. Vì khi đói  gà sẽ ăn lông, lâu ngày thành thói quen, khi đó gà có thể đánh nhau.
Cát dùng để làm sân nuôi gà chủ yếu là dùng cát đen, vì cát đen có giá rẻ và giữ ẩm tốt hơn cát vàng. Bà con sau khi mua cát về có thể đổ trực tiếp vào sân chuồng. Tùy vào điều kiện của gia đình, đặc điểm địa hình khu chuồng trại mà mua khối lượng cát phù hợp. Trung bình độ dày tầng cát từ 50 cm trở lên. Khu vực trũng phải đổ nhiều cát hơn khu vực có địa hình cao để sao cho độ cao từ bậc cửa chuồng xuống đến sân cát khoảng 10 cm là vừa, tránh cho gà phải vận động quá nhiều gây stress.
Cát là vật liệu có sẵn, dễ tìm dễ mua, thích hợp với nhiều địa hình khác nhau. Đặc biệt nuôi gà trên sân cát này rất phù hợp với những nơi ven sông, nguồn cát sẵn có, như vậy sẽ tiết kiệm chi phí xây dựng chuồng trại. 
                                                                                                                      Trần Hải


Hiệu quả nuôi gà ri từ 1 đến 63 ngày tuổi trên sàn lưới sắt bằng thức ăn công nghiệp

Written By Chăn Nuôi on Thursday, June 6, 2013 | 4:30 PM

Hiệu quả nuôi gà ri từ 1 đến 63 ngày tuổi trên sàn lưới sắt bằng thức ăn công nghiệp  
Gà ri là giống gà cổ truyền của dân tộc ta, thịt gà thơm ngon rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Tuy nhiên, giống gà này có tầm vóc nhỏ, nếu nuôi thả vườn lại ăn thức ăn tận dụng thì 5-6 tháng tuổi gà mới đạt xấp xỉ 1kg. Để khai thác tính ưu việt của chất lượng thịt lại hạn chế được tính chậm lớn, vừa qua, tại Lạng Sơn đã tiến hành nuôi thử nghiệm:



I - Phương pháp thử nghiệm
Gà một tuổi được nuôi theo hai công thức (CT): CT1 (đối chứng) gà được nuôi thả tự do cùng gà mẹ, thức ăn là bột ngô, cám, thóc. Số lượng gồm 5 đàn gà, mỗi đàn 10 con và 1 gà mẹ. Sau 30 ngày tách mẹ. CT2 số lượng đàn như CT1 song nuôi riêng biệt từng đàn trên sàn lưới sắt, cho ăn tự do bằng thức ăn công nghiệp của Trung Quốc (tỷ lệ protein tiêu hóa 17%). Sau 30 ngày tách mẹ.
Tất cả gà con ở hai CT trên được chọn ngẫu nhiên, trọng lượng sơ sinh 30-32 gam và được nhỏ, tiêm vac xin phòng bệnh Niu Catxơn và tụ huyết trùng. Gà mẹ được tẩy giun sán.
Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 8-10 năm 1998 và được lặp lại vào năm 1999. Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học.
II. Kết quả
a. Trọng lượng qua các tuần tuổi: Gà được cân bằng cân đĩa. Trọng lượng cụ thể qua các tuần tuổi được phản ánh như sau:
ở giai đoạn 21 ngày tuổi, trọng lượng gà CT2 so với CT1 không khác biệt nhiều. Trọng lượng của nhóm gà trống CT2 lớn hơn trọng lượng nhóm gà trống ở CT1 từ 2,3-3,7%. Chỉ số này ở nhóm gà mái là 3,1-6,3%. Lên 42 ngày tuổi, sự khác biệt này lớn hơn, 11,4-13,5 đối với gà trống và 7,7-8,1% đối với gà mái. Đến cuối kỳ thí nghiệm (lúc 63 ngày tuổi) sự khác biệt rất lớn: 42,6-43,5% với nhóm gà trống và 35,5-44,6% với nhóm gà mái. Sự chênh lệch về trọng lượng lớn như vậy theo chúng tôi do gà ở CT1 nuôi thả vườn bị nhiễm giun khá nặng và đến cuối kỳ thí nghiệm thức ăn, nguồn thức ăn sâu bọ, giun mối, cỏ lá đã giảm nhiều so với trước khi thí nghiệm. Trong khi đó, gà ở CT2, ăn đầy đủ chất, lại ít mắc bệnh giun sán.
b. Tỷ lệ mắc giun sán của 2 CT thí nghiệm:
Loại giun sán
1998
1999

CT1
CT2
CT1
CT2
Số giun đũa TB/gà
75,6
100
-
80
Tỷ lệ mắc giun đũa (%)
1,5
10
-
-
Tỷ lệ gà mắc sán dây (%)
87,7
100

75
Tỷ lệ gà mắc giun kim
1,9
20
-

Số liệu ở bảng cho thấy, gà chăn thả tự do bị nhiễm giun đũa và giun kim rất nặng 75-80% số gà được mổ mắc giun kim và 100% mắc giun đũa. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bùi Lập, Dương Công Thuận. Rõ ràng với tỷ lệ và mức độ nhiễm giun như vậy đã làm gà ở CT1 chậm lớn so với gà nuôi trên lưới sắt.
c. Các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế của 2 CT thí nghiệm:
Chỉ tiêu
1998
1999

CT1
CT2
CT1
CT2
Số gà trước thí nghiệm (con)
50
50
50
50
Số gà còn lại sau thí nghiệm (con)
26
44
27
42
Tỷ lệ sống (%)
52
88
54
84
Trọng lượng TB sau thí nghiệm (g)
426
608
437
612
Tổng trọng lượng thu được (kg)
11,07
26,7
11,8
25,7
Kết quả bảng 2 cho thấy, gà con được nuôi nhốt trên nền lưới sắt có tỷ lệ sống so với tỷ lệ sống của gà nuôi thả tự do rất cao. Trọng lượng sống của gà sau thí nghiệm ở CT2 so với CT1 cũng rất cao (vượt 42,7% - 43,2%), đặc biệt, tổng trọng lượng gà thu được ở CT2 cao hơn nhiều so với CT1 117-141%. Kết quả này là do tỷ lệ nuôi sống ở nhóm CT2 cao hơn ở gà CT2 không bị hại do giun sán.
III. Kết luận.
Để nâng cao HQKT việc nuôi gà ri thả vườn cần tạo ra các con giống ban đầu với giá thành hạ, khỏe mạnh có đủ sức chống chịu với bệnh tật và rủi ro khi nuôi thả ngoài vườn, nuôi gà ri 1 ngày tuổi trên sàn lưới sắt bằng thức ăn công nghiệp đến giai đoạn 42-63 ngày tuổi có khả năng đáp ứng được yêu cầu trên.

Cách nuôi gà thả vườn

Written By Chăn Nuôi on Wednesday, June 5, 2013 | 1:27 AM

Hướng dẫn cách nuôi gà thả vườn, cách chăm sóc, chế độ dinh dưỡng và phòng bệnh.



Chuẩn bị điều kiện nuôi

  • 1
    Chuồng trại:
    • Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
    • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
    • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
      Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
    • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.
  • 2
    Lồng úm gà con:
    • Kích thước 2m x 1 m cao chân 0,5 m đủ nuôi cho 100 con gà.
    • Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
  • 3
    Máng ăn:
    • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
    • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
    • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
  • 4
    Máng uống:
    • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn.
    • Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
  • 5
    Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà:
    • Gà rất thích tắm cát.
    • Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2 m, rộng 1 m, cao 0,3 m cho 40 gà.
    • Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
  • 6
    Dàn đậu cho gà:
    • Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
    • Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5 m, cách nhau 0,3-0,4 m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
    • Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
    • Vườn chăn thả: 1m2/1 con gà.

Chọn giống

  • 1
    Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng.....
    Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri....
  • 2
    Chọn giống gà con:
    • Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
    • Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
    • Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
  • 3
    Chọn gà đẻ tốt:
    • Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6 - 1,7 kg thì rất tốt.
    • Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
    • Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
    • Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
    • Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.

Chăm sóc và nuôi dưỡng

  • 1
    Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
  • 2
    Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
  • 3
    Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi. Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
  • 4
    Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn. Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
  • 5
    Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
  • 6
    Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.
    Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

Thức ăn cho gà

  • 1
    Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.
  • 2
    Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
  • 3
    Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
  • 4
    Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
  • 5
    Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà. Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
  • 6
    Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
  • 7
    Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.

Phòng bệnh

  • 1
    Vệ sinh phòng bệnh:
    • Thức ăn tốt.
    • Nước sạch.
    • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
    • Chuồng nuôi sạch.
    • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
    • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
  • 2
    Phòng bằng Vaccine:
    • Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
    • Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
    • Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
    • Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
  • 3
    Phòng bằng thuốc:
    • Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol...
    • Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,...
  • 4
    Phòng một số bệnh:
    • 1 ngày, bệnh Marek, Rumboro, dịch tả, phương thức: nhúng ngập mũi.
    • 10 ngày, bệnh Gumboro, phương thức: nhỏ mũi.
    • 10 ngày, bệnh đậu, phương thức: xuyên da cánh.
    • 21 ngày, bệnh dịch tả, phương thức: nhỏ mũi, uống.
    • 28 ngày, bệnh Gumboro, phương thức: nhỏ mũi, uống.
    • 56 ngày, bệnh dịch tả, phương thức: uống.
    • 105 ngày, bệnh CRD, phương thức: chích bắp.

Một số bệnh thường gặp ở gà

  • 1
    Bệnh cầu trùng:
    Nguyên nhân:
    • Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do người ta, súc vật... vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.
    • Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
    • Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền.
    Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
    Bệnh tích: Manh tràng sưng to, chân đầy máu. Ruột sưng to. Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu.
    Phòng bệnh:
    • Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
    • Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà.
    • Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước, Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
    Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi liều phòng
  • 2
    Bệnh thương hàn (Salmonellosis):
    Nguyên nhân: Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh.
    Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
    Bệnh tích:
    • Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
    • Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó.
    Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh:
    • Oxytetracyclin: 50-80 mg /gà/ngày, dùng trong 5 ngày.
    • Chloramphenical: 1 gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
    Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh.
  • 3
    Bệnh dịch tả (Newcastle disease):
    Nguyên nhân: Bệnh do virus gây, lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi. Gà mọi lứa tuổi đều mắc bệnh.
    Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: cấp tính và mãn tính.
    Thể cấp tính:
    • Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết.
    • Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
    • Tiêu chảy phân màu xanh - trắng, diều căng đầy hơi.
    • Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
    • Nếu sau 4-5 ngày gà không chết, sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững.
    • Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%.
    Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
    Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus. Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.
    Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
    Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng: Vitamix, vit-plus,...
  • 4
    Bệnh Gumboro:
    Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.
    Triệu chứng:
    • Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
    • Gà sút nhanh, run rẩy.
    • Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.
    • Tỷ lệ chết: 10-30%.
    • Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
    Bệnh tích:
    • Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt.
    • Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.
    • Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
    • Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.
    • Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
    Phòng bệnh bằng vệ sinh:
    • Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.
    • Phòng bằng vaccine.
    Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị. Chỉ dùng thuốc tăng sức đề kháng vật nuôi.
    • Vitamix: 2 gr/1 lít nước.
    • Vitamine C: 1 gr/ 1 lít nước.
    • Dexa (0,5 gr): 1 viên/ 3-4 con.
    • Dùng trong 3 ngày liên tục.


Kỹ thuật nuôi gà Đông Tảo

Written By Chăn Nuôi on Sunday, December 23, 2012 | 1:23 AM


Nguồn gốc: Xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên.

Hình thái: Đặc điểm nổi bật: chân to và thô. Gà mới nở có lông trắng đục. Gà mái trưởng thành có lông màu vàng nhạt, nâu nhạt. Gà trống có màu lông mận chín pha đen, đỉnh đuôi và cánh có màu lông đen ánh xanh. Mào kép, nụ, ‘hoa hồng’, ‘bèo dâu’. Thân hình to, ngực sâu, lườn rộng dài,xương to. Dáng đi chậm chạp, nặng nề. Khối lượng mới nở 38-40 gam. Mọc lông chậm. Lúc trưởng thành con trống nặng 5,5 - 6 kg, con mái nặng 4 kg/con. Một trong những điểm đặc biệt của gà Đông Tảo thuần chủng là bộ lông. Gà Đông Tảo trống có hai mã lông cơ bản: mã mận (nói theo cách người Bắc), tức là màu tím pha đen; màu của trái mận (plum) tam hoa Bắc Hà, Bắc Giang đã chín hết cỡ. Loại gà mã linh, tức là màu đen bóng – óng ánh bề mặt. Mào gà Đông Tảo trống là mào sun (ngắn và thun lại) màu đỏ tía, tích và dái tai màu đỏ, kém phát triển, nhìn gọn và khỏe. Gà Đông Tảo mái có ba mã cơ bản gồm: mã nõn chuối – vàng nhạt; mã thó hay nâu nhạt – màu đất thó hay lá chuối khô; mã ngà – trắng sữa. Lông phần cổ và cánh gà mái thường có pha trộn (cắm vào nền) những chiếc lông màu vàng, trắng sữa, nâu đỏ, đen. Gà mái cũng có mào tựa mào con trống nhưng chỉ to bằng 1/3 so với mào gà trống. Các vị trí da không có lông trên mình gà (cả trống và mái) đều có màu đỏ. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về màu sắc đỏ hay vàng của chân gà đông tảo. Cặp chân gà trống to hơn cả trái chuối; to nhất so với các giống gà trong và ngoài nước. Ngoài ra chân gà Đông Tảo còn có sự khác biệt: bao quanh chân ở phía trước là một lớp vảy da sắp xếp không theo hàng, phần còn lại (3/4 diện tích) da sùi giống bề mặt trái dâu tằm ăn, bốn ngón chân xòe ra, chia ngón rõ nét, bàn chân dày, cân đối nên gà bước đi vững chắc
Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu đẻ lúc 160 ngày tuổi. Nếu để gà đẻ rồi tự ấp thì trong 10 tháng sẽ đẻ được 70 quả. Còn nếu gà đẻ rồi lấy trứng ra ấp, thì gà đẻ khoảng 100 quả/ năm.
Khối lượng trứng: 48-55 gam/quả. Thường được dùng để cúng tế - hội hè. Là vật nuôi cổ truyền
Thức ăn: cho gà Đông Tảo ăn lúa, bắp tẻ nguyên hạt, hoặc thức ăn gà trộn rau muống, rau lang xắt nhỏ là chính, có thể kèm lúa, bắp xay…( thức ăn của gà Đông Tảo gần giống như thức ăn các loại gà thả vườn.
Chú ý: Nuôi gà Đông Tảo cần đặc biệt quan tâm bảo quản gà con. Khi mới nở, ngoài vài cọng lông cánh nhỏ, gà con mang lông tơ đầy mình. Sau 3 – 4 tuần tuổi, gà rụng hết lông tơ mới mọc lông vũ một cách chậm chạp trong 4 – 5 tháng.
Nhìn chung nuôi gà Đông Tảo cũng giống như nuôi gà thả vườn mà lợi nhuận kinh tế của nó thì rất cao.
Video kỹ thuật chăn nuôi gà ở hộ gia đình:




Video ẩm thực: 

 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com