Latest Post

Showing posts with label Heo - Tho. Show all posts
Showing posts with label Heo - Tho. Show all posts

Thụ Tinh Sâu Trong Tử Cung Heo Nái Thành Công

Written By Chăn Nuôi on Sunday, June 23, 2013 | 7:44 AM

Ths. Huỳnh Thanh Vân TTGNN (lược dịch)
TS Grant Walling, trung tâm nghiên cứu di truyền của JSR – Đã có nghiên cứu làm tăng năng suất cho người nuôi heo, Có nhiều kỹ thuật gieo tinh khác nhau đã được phát triển để cải thiện số con sinh ra trong các trại.

Có hai phương pháp chính hữu dụng cho thụ tinh nhân tạo của heo, cả hai đều cho phép sử dụng dẫn tinh quản, nhưng vấn đề là có 2 phương pháp gieo: 

(1) gieo tinh ở cổ tử cung (thường dùng).
(2) và gieo tinh ở phía sau cổ tử cung (gieo tinh sâu).

Với phương pháp gieo tinh ở cổ tử cung thì dẫn tinh quản gieo tinh đưa vào ở cổ tử cung và cổ tử cung đóng lại sau khi con nái tơ/già động dục và tinh dịch sẽ bị hút dần vào khi sừng tử cung co bóp. Dẫn tinh quản này đã được hầu hết các gia đình và người chăn nuôi sử dụng dễ dàng.

Với phương pháp gieo tinh sâu, có một loại dẫn tinh quản khác đã xuất hiện cho phép đặt tinh dịch trong thân của tử cung heo nái (gieo tinh sau cổ tử cung). Những dẫn tinh quản dùng để gieo tinh sau cổ tử cung đắt tiền hơn và có thể vào sâu hơn đó là đi qua cổ tử cung. Loại dẫn tinh quản này cũng tương tự như dẫn tinh quản thường nhưng bên trong nó có chứa thêm một ống nhỏ và dài hơn. Dụng cụ dẫn tinh quản này làm nên kỹ thuật khác biệt và cần thiết phải huấn luyện trước cho người sử dụng. Bởi nguy cơ làm chảy máu và làm tổn thương tổ chức cổ tử cung là rất cao nếu các kỹ thuật viên không được huấn luyện từ từ. Nếu điều này xảy ra thì thực tế đáng buồn sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cho con nái.

Đây là một tiến bộ để tinh trùng có được khoảng cách gần noãn (trứng) hơn. Những nhân viên đã được huấn luyện sử dụng kỹ thuật gieo tinh sâu trong tử cung đã làm nên một số tiến bộ có lợi, đó là: khoảng thời gian gieo tinh nhanh hơn  cần số lượng tinh trùng ít hơn trên một liều khi sử dụng bằng phương pháp thông thường (thông thường 1 liều tinh cần 2.5 – 3 tỷ tinh trùng), như vậy cho phép một con nọc có chất lượng di truyền cao sẽ được nhân rộng hơn.

Nếu số lượng của tinh trùng giảm xuống, bắt buộc chất lượng của tinh dịch phải tối ưu. Theo các nghiên cứu đã báo cáo rằng chỉ cần ít nhất 1,5 tỷ tinh trùng sống trong sử dụng gieo tinh sau cổ tử cung sẽ có tỷ lệ đẻ và số con tương đương các gieo tinh thông thường với 2.5 – 3 tỷ tinh trùng. Tổng số thể tích tinh dịch có được để pha loãng có giới hạn, tuy vậy nó sẽ không bị giảm khi áp dụng gieo tinh trong thân tử cung. Số lượng tối thiểu so nhu cầu được phân phối một cách tối ưu các con tinh trùng thông qua hai sừng tử cung.

Sự phát triển kỹ thuật trong tương lai có quan hệ đến dẫn tinh quản gieo sâu trong tử cung sẽ cho phép chỉ cần vài trăm ngàn con tinh trùng trực tiếp vào sừng tử cung sẽ đạt được hiệu quả to lớn hơn đối với các công ty giống và thích hợp cho người nuôi heo.

Tuy nhiên đánh giá hiệu quả kinh tế hiện thời, điều này có tiến bộ về mặt kinh tế nhưng có giới hạn khi việc chuyển từ gieo tinh ở cổ tử cung sang sau cổ tử cung:
*Khi kỹ thuật viên gieo tinh chưa được huấn luyện tốt: việc dùng ít hơn tinh trùng (hoặc sự thay đổi nho nhỏ trong số lượng tinh trùng trong một liều tinh) hiện nay không có lợi khi khi nguy cơ giảm thấp số thai.

GIEO TINH SÂU  (By Stuart Lumb Pig propress)
Dẫn tinh quản: dùng dẫn tinh quản đi sâu qua cổ tử cung. Công ty Cobiporc – Pháp – có mối quan hệ sâu đến sự phát triển kỹ thuật gieo tinh sâu trong tử cung: trước đây sử dụng dẫn tinh quản để gieo 2 lần nhưng hiện nay họ chỉ cần một liều tinh thông qua cổ tử cung.

Gieo tinh nhân tạo cho heo là một phương pháp phổ biến để phối giống cho cái tơ và nái rạ, với các công ty có mối liên quan họ luôn cố gắng cải tiến kỹ thuật và dụng cụ. Vấn đề chính là làm sao có số con đẻ ra/lứa đạt tối đa trong khi chỉ cần một lượng tinh trùng thấp nhất trong một liều tinh. Đó là mục tiêu đưa đến các nghiên cứu và phát triển kỹ thuật gieo tinh sâu trong tử cung đã được chấp nhận hiện nay. Theo công ty Cobiporc, độ đậm đặc an toàn của mật độ tinh trùng trong một liều tinh là 3 tỷ, số lượng này có thể chia đôi; Bởi vì số lần gieo tinh cho mỗi lần xuất tinh có thể tăng gấp hai lần.

Sự quan tâm tới sự phát triển của kỹ thuật gieo tinh sâu cách đây 5 năm và đã được chấp nhận. Lần đầu tiên nó được giới thiệu ở thị trường Pháp cách đây 3 năm tại hội chợ gia súc Renne. Diễn tả chính xác là có thêm một ống dẫn tinh quản nhỏ hơn, mềm dẽo hơn nằm trong lòng của dẫn tinh quản bình thường, nó cho phép đưa tinh dịch vào xa hơn cổ tử cung từ 15 – 20 cm; Cả hai dẫn tinh quản được đóng trong một gói plastic vô trùng.

Bảng 1So sánh kết quả gieo tinh nhân tạo cho heo nái của 19 trại ở Pháp bằng kỹ thuật gieo 1 lần và 2 lần (Nguồn: Cobiporc, ?)


Gieo 01 lần
Gieo 02 lần
Độ đậm đặc của liều tinh (tỷ con tinh trùng)
2
2
1.5
Số nái được gieo tinh
572
599
597
Tỷ lệ đẻ (%)
92.1
88.7
90.6
Tổng số con đẻ ra /lứa
13
13.4
13.3


Bảng trên cho thấy kết quả nghiên cứu thương mại của công ty so sánh kỹ thuật gieo 01 lần và kỹ thuật gieo tinh 02 lần. Trong đó kết quả tốt nhất là kỹ thuật gieo tinh sâu. Khi so sánh gieo 01 lần và 02 lần không có ý nghĩa về mặt thống kê. Tuy nhiên tổng số heo con sinh ra trên lứa của gieo tinh 02 lần  nhiều hơn có ý nghĩa. Hơn nữa, không thấy có sự khác biệt giữa những con nái gieo tinh sử dụng dẫn tinh quản xoắn với 2 tỷ tinh trùng và những con nái được gieo bằng dẫn tinh quản sâu trong tử cung với liều 1,5 tỷ tinh trùng, họ đã đề nghị rằng một liều tinh chỉ cần 1,5 tỷ con tinh trùng là đủ và hiệu quả hơn hẳn so với sử dụng dẫn tinh quản 02 lần.

Các ưu điểm khi sử dụng gieo tinh sâu trong tử cung:  kỹ thuật đơn giản; Tiết kiệm thời gian (không cần phải nâng nhiệt độ chai tinh lên trước khi gieo); Tiết kiệm thời gian cho sản xuất tinh; Giảm lượng tinh trào ra sau; Cải thiện về năng suất; Cải thiện về giá cả.

Kỹ thuật gieo tinh sâu:  trước khi Trại sử dụng kỹ thuật gieo tinh sâu trong tử cung, có một vấn đề vô cùng quan trọng đó là nhân viên phải được các nhà chuyên môn huấn luyện cẩn trọng trước khi cung cấp kỹ thuật này. Phải thực hiện theo nhiều (tám) bước phức tạp sau:    1.Vệ sinh lau chùi sạch âm hộ bằng thuốc sát trùng. 
2. Xé bọc plastic bảo vệ để lộ đầu của dẫn tinh quản và ống trượt bên trong ra. 
3. Nhẹ nhàng đặt đầu dẫn tinh quản (DTQ) vào phía dưới âm hộ và thật nhẹ nhàng kéo DTQ ra khỏi bao, đẩy vào hướng lên trên đến khi cảm thấy bị vướng lại và xoay DTQ đến khi bị khóa chặt lại là được. 
4. Đợi khoảng 01 phút (trong lúc này có thể chuẩn bị gieo tinh cho con nái khác). 
5. Cầm ống trượt ở giữa DTQ và đẩy nó một cách vô cùng cẩn thận đi qua cổ tử cung. 
6. Dùng một ống kết nối, để nối DTQ vào chai tinh hoặc ống chứa tinh. 
7. Bơm tinh dịch vào DTQ để áp lực đẩy tinh vào (chỉ ấn nhẹ nhàng, có thể cung cấp một cách chầm chậm để tinh dịch chảy vào trong tử cung).
8. Chỉ gieo tinh một lần là hoàn tất, xoay DTQ theo chiều kim đồng hồ, nhẹ nhàng rút từ từ cả hai DTQ ra khỏi âm hộ của nái.
Khi gieo tinh cho con nái cần để con nọc đứng gần để nó giúp cho con nái đáp ứng phối giống mạnh hơn; để con nọc hiện diện đến sau khi đã lấy DTQ ra có thể giúp kích thích quá trình đậu thai tốt hơn.

Sử Dụng Đệm Lót Sinh Học Trong Chăn Nuôi Thỏ

Thỏ đang là vật nuôi khá phổ biến, đem lại giá trị kinh tế cao cho nhiều bà con nông dân. Nhưng để nuôi thỏ đảm bảo vệ sinh môi trường cũng như giảm thiểu công lao động là một bài toán mà nhiều hộ chăn nuôi còn trăn trở. Mới đây, một số hộ chăn nuôi thỏ ở huyện Tân Yên - Bắc Giang đã áp dụng thành công công nghệ sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi thỏ để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh trên giống vật nuôi này.
 
Giảm công chăm sóc, ô nhiễm môi trường

Mùn cưa, trấu với cám ngô và chế phẩm vi sinh là nguyên liệu chính được sử dụng làm đệm lót dưới chuồng nuôi thỏ. Bằng cách sử dụng đệm lót sinh học này, hiện nay công việc chăn nuôi thỏ của gia đình anh Nguyên Văn Sang, xã Việt Ngọc, Tân Yên, Bắc Giang không phải vất vả như trước đây. 

Quy mô trang trại của anh Sang lên đến hàng nghìn con thỏ. Vì vậy, lượng phân thải ra hàng ngày là rất lớn. Từ ngày sử dụng đệm lót, anh không còn bị ở trạng thái khó thở mỗi khi vào chuồng nuôi. 
Trước đây mình chưa dùng đệm lót thì mình xả nước vào và hót phân. Mặc dù thế nhưng công nhân cứ làm việc được 1 tiếng lại phải ra ngoài hít thở không khí. Vì chất thải của con thỏ không như các con vật khác là rất nồng.”- Anh Sang chia sẻ.
 Sử dụng đệm lót sinh học bên dưới lồng nuôi thỏ

Đệm lót có hiệu quả cao trong việc xử lý phân thỏ, mùi hôi thối không còn. Công việc chăm sóc thỏ cũng vì vậy được giảm thiểu đi rất nhiều. 
So với trước đây, mỗi ngày anh Sang phải rửa chuồng liên tục từ 3 đến 4 lần. Mỗi lần rửa chuồng này mất khoảng 1 tiếng đồng hồ. Như vậy với phương thức chăn nuôi cũ, anh Sang vừa tốn công lao động, lại còn mất tiền điện, tiền nước. 
Khi sử dụng đệm lót thì mình không phải làm công việc hót phân, rửa chuồng nữa. Mình chỉ cần đảo thôi. Cũng vì thế mà mình giảm được công nhân. Trước đây là 3 công nhân nhưng giờ chỉ cần 2 công nhân thôi.” – Anh Sang nói trong niềm vui. 
Lớp đệm lót lên men có thể tiết kiệm 80% lượng nước trong chăn nuôi do không phải rửa chuồng. Môi trường đệm lót cũng sẽ giúp thỏ hít vào cơ thể một số vi sinh vật có lợi, giúp thỏ có khả năng tiêu hóa, hấp thụ thức ăn tốt hơn.   

Cách làm đơn giản, chi phí thấp


Nói về cách tạo lớp đệm lót, anh Sang cho biết: “Ngoài mùn cưa, trấu thì cần có một nguyên liệu rất quan trọng là chế phẩm vi sinh, mình đặt mua. Một cân chế phẩm thì mình rải được 6m2. Mình ủ theo hướng dẫn của đại lý.
Để phát huy hiệu quả khi sử dụng đệm lót sinh học, cứ 3- 4 ngày anh Sang lại tiến hành xáo trộn lớp đệm lót 1 lần, sau 6- 7 tháng thì dọn chuồng và thay lớp mới. 
Sử dụng đệm lót trong chăn nuôi thỏ yếu tố nền chuồng cũng rất quan  trọng, bởi các loại nền khác  nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình lên men . 
Với những nền chuồng bằng đất thì các loại vi sinh vật có khả năng phân giải phân và nước tiểu của thỏ nhanh hơn. Tuy nhiên, với những nền chuồng làm bằng nền gạch và xi măng thì cần phải làm rãnh nước thải. 
Quá trình thỏ thải phân và nước giải xuống nền đệm lót, nếu không có rãnh thoát nước sẽ gây ứ đọng và làm hỏng men vi sinh. Khi đó, việc khứ mùi cũng kém hơn. 
Anh Sang thiết kế lồng nuôi có gầm cao từ 80cm đến 1m so với nền đệm lót để thuận lợi trong quá trình dọn vệ sinh.
Sàn nuôi thỏ của anh được làm bằng ống nhựa. Theo anh, nếu sàn chuồng thiết kế bằng tre hoặc sắt thì phân thỏ không rơi xuống hết, đọng lại khiến cho nền chuồng ẩm ướt. Đây cũng là tác nhân gây ra một số bệnh trên thỏ như đau mắt, nấm.
Còn với sàn chuồng bằng ống nhựa, lồng nuôi luôn được sạch sẽ và thông thoáng. Ống nhựa hình tròn, trơn giúp chất thải của thỏ dễ dàng rơi xuống nền chuồng. 

“Dùng ống nhựa tốt hơn dùng tre rất nhiều, nếu dùng tre, phân hay bị dính lại xuống sàn, mà thỏ lại có thể gặm nhấm được. Còn dùng ống nhựa thì thỏ không thể gặm nhấm được. Khoảng cách giữa các ống nhựa là 1cm đủ để phân, nước thải chảy xuống nền mà thỏ vẫn đi lại dễ dàng trong chuồng.”- Anh Sang chia sẻ.
  
Với cách thiết kế sàn chuồng bằng ống nhựa và sử dụng đệm lót bên dưới, anh Sang đã giảm thiểu được chi phí chăn nuôi, công chăm sóc và đặc biệt là giảm được ô nhiễm môi trường. Phương pháp chăn nuôi này vừa đơn giản vừa đem lại hiệu quả cao cho người nuôi thỏ.

Quản Lý Heo Con Sơ Sinh Trong Vòng 1 Tuần Đầu Sau Khi Sinh

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 21, 2013 | 6:56 AM

Việc chăm sóc, nuôi dưỡng heo con giai đoạn theo mẹ có ảnh hưởng rất quan trọng đến năng suất của một trang trại: số heo cai sữa/nái/năm, và khả năng phát triển của heo con ở giai đoạn sau khi tách mẹ. Theo những nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ chết trung bình của heo con giai đoạn theo mẹ khoảng 9,4%, . Và hai nguyên nhân chính gây chết heo con ở giai đoạn này là chết đè (48.7%), và chết yếu (20,5%). Một số khảo sát khác lại cho rằng hơn 50% số heo chết thường xảy ra trong giai đoạn 3 ngày đầu sau khi sinh.


Như vậy phương pháp gì, và làm như thế nào để cải thiện tỷ lệ heo con cai sữa/nái/năm. Về cơ bản, heo con sơ sinh thường không có khả năng tự bảo vệ cơ thể của chính mình sau khi sinh nên chúng phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của con người. Thông thường, cơ thể heo con mới sinh có sẵn một lượng mỡ chỉ đủ duy trì năng lượng sống trong ngày đầu, và heo con không thể tự điều chỉnh nhiệt độ cơ thể trong vài ngày đầu tiên. Do đó, bất kỳ lý do nào gây ra việc suy giảm lượng sữa được hấp thu, do lạnh hay do mầm bệnh, sẽ làm cho cơ thể heo con bị yếu đi và rất dễ chết.

Heo con sơ sinh thường được chia làm hai nhóm chính: nhóm heo con khỏe mạnh bình thường, và nhóm heo con sơ sinh yếu. Phát hiện những heo con sơ sinh yếu sớm giúp cho người chăn nuôi kịp thời có liệu pháp thích hợp để hỗ trợ. Thông thường, heo con bình thường khỏe mạnh là những heo được sinh ra trong thời gian ngắn, tự động đứng lên nhanh chóng trong vòng một hay hai phút sau và tự kiếm được vú mẹ để bú trong vòng 15 phút sau khi sinh. Nếu heo mẹ tốt, tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp thì nhóm heo con bình thường  phát triển khỏe mạnh mà không cần nhiều sự chăm sóc từ con người. 

Nhưng, đối với nhóm heo sơ sinh yếu sau khi sinh thì ngược lại, sự chăm sóc cẩn thận nhằm duy trì khả năng sống sót, đặc biệt  trong giai đoạn một tuần đầu sau khi sinh. Nhóm heo con yếu gồm những heo con từ những nái mẹ có thời gian sinh kéo dài, có trọng lượng thấp, có khuyết tật cơ thể, không có thể bú được vú mẹ, và bị lạnh run sau khi sinh. Tình trạng yếu ớt của cơ thể làm giảm khả năng “cạnh tranh” với những đối tượng khỏe mạnh khác trong cùng một bầy để bú được lượng sữa đầu cần thiết trong vòng vài giờ đầu sau khi sinh dẫn đến việc giảm lượng sữa đầu hấp thu. Từ đó, nhiệt độ cơ thể bị giảm xuống, điều này thể hiện qua tình tranh heo con nằm tụm lại và chồng đống lên nhau, lạnh run, và chết. Sau đây là những bước cơ bản để giúp làm tăng khả năng sống sót của heo con sau khi sinh.

1 / Hỗ trợ nái đẻ:
Nhiều nghiên cứu cũng như thực tế chỉ ra rằng, việc hỗ trợ heo con sơ sinh trong thời gian nái đang đẻ giúp cho người chăn nuôi nhanh chóng phát hiện ra những heo con trong nhóm sơ sinh yếu, và nhanh chóng thực hiện những biện pháp hỗ trợ như: móc nhớt, đờm từ miệng, làm khô heo con bằng bột lăn, đèn úm, cho bú kịp kịp thời để tăng khả năng sống sót của heo con.

2 / Ngăn ngừa việc heo con bị lạnh:
Chuồng nuôi heo trong giai đoạn sơ sinh cần có hai tiểu khí hậu chuồng nuôi riêng biệt: nhiệt độ mát (15,5oC – 18,3oC) cho heo nái mẹ, và nhiệt độ ấm, nóng (35oC – 24,4oC trong vài ngày đầu và giảm xuống 26,6oC – 21,1oC) cho heo con. Để đạt được yêu cầu này, trại nên duy trì nhiệt độ chuồng nuôi khoảng 18,3oC – 21,1oC, và có khu vực úm để làm ấm cho heo con. Thường xuyên theo dõi phản ứng của nái mẹ và heo con để kịp thời điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp với yêu cầu của nái mẹ và heo con. Nếu nhiệt độ úm vượt quá ngưỡng (nóng quá), heo con sẽ không nằm trong ổ úm mà sẽ di chuyển ra phía bên ngoài gần khu vực nái mẹ. Điều này không những làm lãng phí nguồn điện năng mà còn làm tăng tỷ lệ chết đè do nái mẹ gây ra. Nếu nhiệt độ úm thấp dưới ngưỡng yêu cầu, heo con sẽ nằm tụm lại thành đống, hay nằm chồng lên nhau. Điều này rất nguy hiểm vì heo con nhiễm lạnh rất dễ bị tiêu chảy và suy nhược cơ thể. Heo con nằm ngủ trong tư thế thoải mái (nằm nghiêng và thường chạm nhẹ vào nhau) cho thấy nhiệt độ úm thích hợp với yêu cầu của heo con. Viêc chuẩn bị ổ úm cho heo con nên chuẩn bị trước khi nái đẻ (24 giờ), và có thể trong khi nái đẻ chúng ta nên cho thêm một đèn úm nằm ở phía sau của nái. Điều này giúp cho heo con nhanh chóng tự làm khô cơ thể, và nhanh chóng tìm vú mẹ để bú được sữa đầu. 

3 / Đảm bảo heo con bú đủ lượng sữa đầu cần thiết:
Sữa đầu là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho heo con do có chứa một lượng lớn kháng thể. Sữa đầu có chất lượng kháng thể cao nhất trong vòng 6 giờ đầu sau khi sinh và lượng kháng thể này giảm dần và mất hẳn lúc 24 giờ sau khi sinh. Những heo con khỏe mạnh sẽ tự bú được lượng sữa đầu cần thiết, nhưng nhóm heo con sơ sinh yếu rất khó khăn để thu được lượng sữa đầu theo yêu cầu của cơ thể. Sau đây là những cách để giúp cho nhóm heo con yếu có thể bú đủ sữa đầu:
  • Ngăn ngừa tình trạng heo con bị lạnh sau khi sinh bằng cách cho heo con nằm trên tấm giẻ hút ẩm (bao bố), rắc bột làm khô lên mình heo con, và cung cấp đèn úm cho heo con
  • Cho bú theo ca trong tình trạng số heo con trong cùng một ổ nái đẻ quá nhiều. Thực hiện trong 12 giờ đầu sau khi sinh. Để đạt được kết quả tốt, nên tách những heo con lớn trội trong bầy ra khỏi nái mẹ  1 – 2 giờ vào buổi sáng, và t 1 – 2 giờ vào buổi chiều, và để nhóm heo con yếu ở lại với nái mẹ. Chích cho nái mẹ 1 – 1,5 ml Oxytocin hay 2 ml Suiprost mỗi lần tách nhóm heo con ra khỏi nái mẹ. Đảm bảo rằng những heo con lớn trội khi tách ra khỏi mẹ phải được ủ ấm cẩn thận. Thực hiện phương pháp này giúp heo con bú đủ sữa đầu trước khi thực hiện nuôi ghép bầy.
4 / Nuôi ghép bầy:
Tỷ lệ chết heo con giai đoạn theo mẹ thấp thường nằm trong nhóm heo con sơ sinh có trọng lượng lớn, khỏe mạnh, và có tính đồng đều giữa các cá thể trong bầy cao. Mục đích chính của việc nuôi ghép là làm tăng tính đồng đều giữa các cá thể trong cùng một ổ nái đẻ, và số heo con/ổ nái phải tương đồng với khả năng của nái mẹ (thể trạng, số vú có khả năng cho sữa). Để đảm bảo được chất lượng của việc nuôi ghép, chúng ta cần thực hiện theo các yêu cầu sau:
  • Đảm bảo tất cả heo con phải bú đủ sữa đầu từ nái mẹ của chúng trước khi tiến hành nuôi ghép. Nên nhớ rằng, cần giữ heo con ở với nái mẹ của chúng ít nhất từ 4 – 6 giờ sau khi sinh trước khi ghép bầy.
  • Ghép bầy heo con nên tiến hành trước khi heo con sinh ra được 24 – 48 giờ để tránh tình trạng heo con quen với vú của mẹ mình.
  • Chọn những heo nái mẹ có thể trạng nhỏ, lành tính (hiền), kích cỡ núm vú nhỏ để nuôi dưỡng nhóm heo sơ sinh yếu
  • Theo dõi tình hình bệnh tật trong khu vực nái đẻ trước khi tiến hành ghép bầy. Điều này rất quan trọng vì làm giảm khả năng phát tán mầm bệnh. Tránh ghép heo con khỏe mạnh sang những nái bệnh, và ngược lại
  • Nên lựa những heo đực con để thực hiện việc nuôi ghép bầy.
Nguồn tham khảo:

Phương Pháp Xử Lý Phân Lợn Tổng Hợp Sử Dụng Quy Trình Lọc Sinh Học BIOSORTM

Written By Chăn Nuôi on Friday, June 7, 2013 | 12:09 AM

(Comprehensive pig manure treatment using the BIOSORTM biofiltration process)  
Tóm tắt:
            Ngày nay, sự gia tăng của các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và ý thức ngày càng được nâng cao của cộng đồng về các vấn đề môi trường đã và đang dẫn đến sự gia tăng  nghiên cứu về các phương pháp xử lý phân lợn ở nhiều quốc gia khác nhau. Trong các nghiên cứu về xử lý phân lợn, phương pháp sử dụng đệm lọc sinh học tỏ ra là một phương pháp rất đáng tin cậy trong xử lý và tái sinh chất lỏng và chất khí thải ra từ các trại chăn nuôi lợn.
            Liên quan đến tiềm năng của công nghệ này, nhiều nghiên cứu và phát triển với quy mô sản xuất đã và đang được tiến hành để chứng minh rằng quy trình xử lý BIOSORTM là một phương pháp hiệu quả trong việc xử lý phân lợn và  mùi tại các trang trại nuôi lợn. Công trình khoa học này đã được thử nghiệm tại một trang trại chăn nuôi sử dụng một hệ thống lọc sinh học có thể tích 400 m3. Hệ thống này bao gồm một bể phân hủy – bể lắng gạn kết hợp, một bộ lọc trước bảo vệ và một máy lọc sinh học hoạt động kép.
            Hệ thống hoạt động tốt mặc dù có nhiều sự thay đổi về nhiệt độ cũng như lượng chất hữu cơ có trong phân lợn tại đầu ra của bể chứa (pretank outlet). Tuy có sự thay đổi lớn của giá trị BOD5 (10000 – 20000 mg/l), giá trị SS (10000 – 20000 mg/l), giá trị TKN (2000 – 3800 mg/l) và giá trị Ptot (500 – 900mg/l), nhưng hệ thống BIOSORTM vẫn có thể duy trì khả năng loại bỏ các chất gây ô nhiễm, trung bình > 95% đối với BOD5, > 97% đối với SS, > 75% đối với TKN và > 87% đối với Ptot. Do đã loại bỏ tới hơn 95% lượng vật chất hữu cơ trong phân lợn thô, BIOSORTM đã loại trừ gần 95% lượng mùi hôi thoát ra khi vận chuyển, lưu trữ cũng như trong khi rải phân lợn.
            1. Giới thiệu
            Trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng trang trại chăn nuôi lợn đã gia tăng một cách đáng kể tại Quebec. Tổng số lợn hiện nay đã tăng lên gần gấp 3 lần. Năm 1985, có 1200 trang trại nuôi lợn với qui mô hơn 100 nái  và 793 cơ sở trộn thức ăn cho  hơn 1000 con lợn mỗi năm. Sự phát triển của ngành kinh tế này đã tạo ra một lượng phân dư thừa nếu so sánh với diện tích trồng trọt hiện có. Kết quả của sự dư thừa này là làm gia tăng ô nhiễm nước, không khí và đất; ngoài ra còn có các mùi hôi khó chịu, đặc biệt là trong và xung quanh khu vực chuồng nuôi, kho chứa phân và trong quá trình rải phân. Bằng cách đo cường độ và thời gian phát tán mùi hôi, người ta đã ước tính được 20% lượng mùi hôi tại Quebec bắt nguồn từ các khu chuồng nuôi, 10% từ các kho chứa, 5% từ quá trình tái sinh và 65% từ quá trình rải phân.
            Các tài liệu nghiên cứu về sự thoát khí từ phân lợn cho thấy các khí này chủ yếu là hỗn hợp của metan, cacbon dioxit, ammoniac và hydro sulphit. Amoniac ở đây là thành phần chính, tuy nhiên nó không phải là chất khí có mùi nặng nhất. Nồng độ trung bình của NH3 hiếm khi vượt quá 66ppm, trong khi “ngưỡng” mùi của nó là 47ppm. Tuy nhiên cần phải kiểm soát lượng NH3 một cách chặt chẽ trước và sau khi xử lý vì NH3 có tham gia vào hiện tượng mưa axit; thêm vào đó, chất khí này còn là một chất chỉ thị tốt cho quá trình kiểm soát mùi trong thời gian xử lý phân. Trimetyl amin và hydro sulphit là các hợp chất có ngưỡng mùi thấp nhất (lần lượt là 0.00021 và 0.00047 ppm).
            Một nghiên cứu được tiến hành bởi ROCHE LTEE đã chỉ ra rằng phân lợn lỏng có chứa hàm lượng lớn lượng vật chất hữu cơ (6.7%), Ntotal (0.61%) và P2O5 (0.33%). Thể tích phân thải ra trong 1 ngày của một vật nuôi trung bình bằng 7% khối lượng của nó, đồng thời phụ thuộc vào một vài yếu tố như trọng lượng của vật nuôi và cách chăm sóc (cho ăn và tuần suất vệ sinh, v.v). Thêm vào đó, sự gia tăng của các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và ý thức ngày càng được nâng cao của cộng đồng về các vấn đề môi trường đã và đang dẫn đến sự gia tăng nghiên cứu về các phương pháp xử lý ở nhiều quốc gia khác nhau. Trong các giải pháp để xử lý phân lợn, phương pháp sử dụng đệm lọc sinh học tỏ ra là một phương pháp rất đáng tin cậy trong xử lý và tái sinh chất lỏng và chất khí thải ra từ các trang trại chăn nuôi lợn.
            Cơ sở của phương pháp lọc sinh học là đưa nước thải và khí thải đi qua một máy lọc có chứa một tầng đệm hữu cơ. Để loại bỏ các tác nhân gây ô nhiễm, lớp đệm hữu cơ này có thể thực hiện theo 2 cách, thứ nhất đóng vai trò như một chất nhựa tự nhiên có chức năng lưu giữ chất gây ô nhiễm; thứ hai là làm môi trường cho các vi sinh vật có thể biến đổi các vật chất được giữ lại trong lớp đệm. Các chất gây ô nhiễm được chuyển hóa thành CO2 và H2O do hoạt động của các vi sinh vật. Bộ phận cấu thành lớp đệm, đặc biệt là lignin và các axit hữu cơ, có chứa nhiều nhóm chức phân cực như : rượu, phenol, aldehit, xeton, axit và ete. Đặc tính phân cực này làm các phân tử hữu cơ và các kim loại chuyển tiếp có khả năng hấp phụ tốt. Tính hấp phụ cũng có liên quan đến các yếu tố như cấu trúc lỗ rỗng, tính dẫn điện (đối với hấp phụ vật lý).
            Các nghiên cứu khác nhau đã và đang được nghiên cứu về các loại lớp đệm sinh học, chủ yếu là than bùn nhằm kiểm soát sự ô nhiễm nước. Nghiên cứu đầu tiên về máy lọc đệm sinh học nhằm lọc không khí bị nhiễm bẫn được thực hiện bởi Bohn, Zeizig, Rand và các cộng sự. Trong các nghiên cứu này, các máy lọc sinh học có tầng đệm hữu cơ được chứng minh là có hiệu quả trong việc làm giảm lượng nước và khí thải gây ô nhiễm với chi phí rẻ hơn các công nghệ hiện có.
            Nghiên cứu được tiến hành bởi Centre de Recherche Industrielle du Quebec (CRIQ)  cũng chứng minh rằng các máy lọc sinh học có tầng đệm hữu cơ còn có thể xử lý nước thải có nồng độ lớn. Các máy lọc thử nghiệm có thể xử lý một cách có hiệu quả dung dịch thoát qua từ hố ủ phân bò sữa (khoảng 9000 O2/l BOD5, 1200 mg/l TKN). Các quá trình yếm khí được nối tiếp bởi một giai đoạn xử lý hiếu khí có thể loại bỏ tới 90% BOD5, 80% lượng SS và 70% lượng TKN. Nghiên cứu của Buelna, Dube và Blais chỉ ra rằng phương pháp này có thể làm giảm lượng chất gây ô nhiễm trong phân lợn tới hơn 90%. Tầng đệm hữu cơ cũng làm tăng nồng độ TKN lên 3 lần và Ptot lên 8 lần.
            Các máy lọc sinh học có thể khử hơn 95% lượng mùi khó chịu có trong không khí bị ô nhiễm mùi. Hình 2 mô tả quá trình vận hành của thiết bị xử lý BIOSORTM đồng thời xử lý cả nước thải và khí thải.
            Liên quan đến tiềm năng của công nghệ này, nhiều nghiên cứu và phát triển với quy mô công nghiệp  đã và đang được tiến hành để chứng minh rằng quy trình xử lý BIOSORTM là một phương pháp hiệu quả trong việc xử lý phân lợn và không khí có mùi tại các trang trại nuôi lợn. Nghiên cứu này được thực hiện  tại một trang trại chăn nuôi sử dụng hệ thống lọc sinh học có thể tích 400 m3. Hệ thống này bao gồm một bể phân hủy – bể lắng gạn kết hợp, một bộ lọc trước bảo vệ và một máy lọc sinh học hoạt động kép.
            Hệ thống hoạt động tốt bất chấp sự thay đổi về nhiệt độ cũng như lượng chất hữu cơ có trong phân lợn tại đầu ra của bể chứa (pretank outlet). Tuy có sự thay đổi lớn của giá trị BOD5 (10000 – 20000 mg/l), giá trị SS (10000 – 20000 mg/l), giá trị TKN (2000 – 3800 mg/l) và giá trị Ptot (500 – 900mg/l), nhưng hệ thống BIOSORTM vẫn có thể duy trì khả năng loại bỏ các chất gây ô nhiễm, trung bình > 95% đối với BOD5, >97% đối với SS, >75% đối với TKN và >87% đối với Ptot. Do đã loại bỏ tới hơn 95% lượng vật chất hữu cơ trong phân lợn thô, BIOSORTM đã loại trừ gần 95% lượng mùi hôi thoát ra khi vận chuyển, lưu trữ cũng như trong quá trình rải phân lợn.
            Hàm lượng NH3 và HS trong các trại chăn nuôi lợn thường thay đổi theo mùa lần lượt từ 1.0 đến 7.1 ppm và từ 0.03 đến 0.21 ppm. Một máy lọc sinh  học được lắp đặt tại trang trại chăn nuôi và vận hành với lưu lượng 7000m3/h có thể xử lý từ 94% đến 100% lượng amoniac có trong khí thải. Đối với hydro sulphit thì thiết bị này có thể xử lý triệt để 100%. Các thiết bị khứu giác đã chứng minh rằng phương pháp xử lý khí này làm giảm một cách rõ rệt cường độ mùi hôi.
            Một hệ thống đơn giản, hiệu quả và an toàn có thể kiểm soát mùi hôi là cần thiết cho việc làm giảm lượng phân dư thừa và chi phí vận chuyển. 
            2. Nội dung và phương pháp
            Tháng 1 năm 1997, một hệ thống lọc sinh học với quy mô công nghiệp đã được xây dựng và đưa vào hoạt động để xử lý nước và khí thải từ một trang trại nuôi lợn với qui mô 150 nái, từ lợn con đẻ ra tới khi bán thịt  (khoảng 2000 con lợn thành phẩm mỗi năm). Công suất của hệ thống là xử lý 12 m3 phân/ngày và 15000 m3 khí/ giờ.
            Trước tiên trong quá trình xử lý phân lợn người ta chia phân lợn thành các pha lỏng và pha rắn trong một bể phân hủy – bể lắng gạn kết hợp có dung tích 1200m3 (thực chất là một thùng chứa được lắp ráp lại). Bùn  lắng (thường chiếm từ 15 – 20% tổng thể tích phân thải ra) được ổn định và khử mùi bằng quá trình xử lý yếm khí. Lượng chất lỏng còn lại (chiếm từ 80 – 85%) được dẫn vào một máy lọc thô có thể tích 8 m3, máy này được cấu tạo từ các vật liệu tự nhiên có cấu trúc thô. Tiếp theo đó, phần lỏng được bơm lên bề mặt của tầng lọc sinh học thể tích 400 m3 được cấu tạo từ một lớp đệm hữu cơ nhiều lớp (vỏ bào, than bùn và vỏ cây). Để đáp ứng các quy chuẩn hiện tại, nước phân đã qua xử lý được lưu trữ trong những thùng chứa trước khi được sử dụng làm nước rửa hay dùng để tưới ruộng. Không khí bị nhiễm mùi của các chuồng nuôi cũng đồng thời được dẫn vào máy lọc sinh học; sau khi xử lý nó được hồi lưu trở lại khu chuồng nuôi.
            Một số thông số vật lý, hóa học, vi sinh vật học, độ nhận cảm và thủy động học của phân được kiểm soát trong vòng vài tháng để xác định khả năng hoạt động và trình tự làm việc của hệ thống. Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), cặn lơ lửng (SS), tổng lượng nito Kjedahl (TKN) và photpho (Ptot) được xác định để đánh giá tính hiệu quả của hệ thống lọc sinh học trong xử lý phân lợn. Ammoniac (NH3), hydro sulfit (H2S) và độ nhận cảm (khứu giác) được chọn làm các thông số để xác định khả năng loại bỏ các chất gây ô nhiễm khỏi không khí xung quanh khu vực chăn nuôi. Thành phần rắn của phân (bùn nhão) được đặc trưng bởi các thông số như hàm lượng nước, mật độ khối, lượng vật chất hữu cơ, nito, photpho và kali.
            Tất cả các kỹ thuật phân tích được sử dụng để đánh giá thành phần lỏng của phân có phù hợp với tiêu chuẩn. Các phân tích thành phần rắn của phân được thực hiện tại phòng thí nghiệm của CRIQ, phòng thí nghiệm này được chứng nhận bởi MEF. Phương pháp lấy mẫu để đánh giá các đặc tính của không khí bẩn xung quanh chuồng nuôi sử dụng một thiết bị có khả năng lấy mẫu một cách chọn lọc các hợp chất khác nhau. Kỹ thuật này bao gồm các hợp chất có khả năng bắt giữ chất bay hơi, nhờ đó chúng có thể được xác định bởi các thuốc thử đặc biệt. Ammoniac được thu lại dưới dạng các ion amoni trong dung dịch clohydric và được đo bằng phép đo màu sử dụng thuốc thử Nessler theo tiêu chuẩn AFNOR NFT 90 15. Các hợp chất của lưu huỳnh được đo bằng phương pháp sử dụng iot.
            Để thực hiện phép phân tích độ nhận cảm của khí thải đã và chưa qua xử lý, người ta sử dụng miếng vải có khả năng hấp phụ mùi. Miếng vải đã hấp phụ mùi được đưa qua một máy đánh giá gây cảm giác. Sau đó một ban gồm 10 đến 12 người sử dụng khứu giác của họ để thực hiện quá trình phân tích mùi bằng  khứu giác.
            Kết quả của phép kiểm tra độ nhận cảm được xử lý bằng  phương pháp thống kê: phép kiểm tra tam giác. Phương pháp này, theo mô tả của Larmond, được sử dụng để xác định liệu các khác biệt đáng kể có tồn tại giữa hai mẫu đo khác nhau (không khí bẩn/không khí đã xử lý và không khí đã xử lý/ không khí thường) hay không. Nếu có một sự khác biệt xảy ra thì tính hiệu quả của cả quá trình khử mùi sẽ được tính toán ra dưới dạng cường độ mùi (OI) và định mức mùi độc hại (ONR).
            3. Các kết quả và thảo luận
            Các đặc tính của phân lợn
            Các giá trị vật lý, hóa học và sinh hóa trung bình của chất thải tại đầu ra của bình chứa trước được trình bày trong bảng 1. Các kết quả này đã cho thấy dòng chất thải có chứa một nồng độ rất cao photphat (Ptot), nito (TKN), các vật chất hữu cơ (BOD5) và cặn lơ lửng (SS). Các giá trị này cao hơn từ 60 đến 100 lần so với nước thải sinh hoạt, và là giá trị trung bình của nước thải từ các trại chăn nuôi lợn.
            Bước đầu tiên của quá trình xử lý là đưa phân đi qua bể phân hủy – bể lắng gạn nhằm trung hòa các thay đổi trong thành phần phân, làm giảm nồng độ cặn lơ lửng và ổn định bùn lắng bằng phương pháp phân hủy yếm khí. Bảng 1 chỉ ra rằng bể phân hủy – nồi lắng gạn đã duy trì một nồng độ tương đối ổn định các thông số khác nhau cũng như làm giảm nồng độ SS tới 94% và đối với tổng lượng photpho là 71%. Thêm vào đó các chỉ số cũng chỉ ra các ưu điểm cả về mặt quản lý sử dụng phân (chi phí vận chuyển, lưu giữ các giá trị dinh dưỡng cho cây trồng) và hoạt động của máy lọc sinh học.
Bảng 1: Các đặc tính vật lý, hóa học và sinh hóa của phân thô và sau khi lắng
Thông số
Phân thô (mg/l) và độ lệch trung bình
Phân sau khi lắng (mg/l) và độ lệch trung bình
Hiệu quả trung bình của quá trình lắng (%)
BOD5
(10000-20000) 13000
(72000-96000) 8500
35
SS
(10000-20000) 16000
(730-1600) 940
94
Ptot
(500-900) 650
(180-200) 190
71
TKN
(2000-3800) 2300
(1600-1800) 1700
26

            Quá trình xử lý đồng thời phân và không khí bằng máy lọc sinh học
            Xử lý thành phần lỏng của phân lợn sau khi lắng
            Quá trình loại bỏ các chất gây ô nhiễm bằng máy lọc sinh học được thực hiện với lưu lượng phân là 7 m3/ ngày và lưu lượng khí là 7000 m3/ giờ. Điều quan trọng ở đây là tính ổn định và chất lượng của hệ thống lọc sinh học trong suốt quá trình diễn ra thí nghiệm. Các đặc tính về hấp phụ, hấp thụ và trao đổi cation của lớp đệm hữu cơ cho phép hệ thống này có thể làm việc với những sự thay đổi lớn trong thành phần phân mà không làm ảnh hưởng một cách đáng kể đến tốc độ loại bỏ chất gây ô nhiễm.
            Độ pH của phân lợn vẫn duy trì ở mức trung tính trong suốt quá trình thí nghiệm. Đối với lớp đệm hữu cơ người ta thấy rằng nó hoạt động hiệu quả tại pH bằng 8.
            Sự loại bỏ cacbon hữu cơ không chịu nhiều ảnh hưởng từ các thay đổi với biên độ lớn của giá trị BOD5 của phân lợn (7200-9600 mg/l). Nồng độ SS tại đầu vào máy lọc thay đổi rất nhiều trong thời gian thí nghiệm. Những thay đổi này có liên quan đến trạng thái thủy động trong thùng lắng - thùng phân hủy. Mặc dù tại thời điểm lượng phân lớn (1600mg/l), tốc độ lắng gạn vẫn duy trì SS trong nước thải ở nồng độ dưới 200 mg/l (hiệu quả trên 80%). Lớp đệm xúc tác cần được bảo trì 2 lần một năm (vệ sinh và khuấy trộn tầng đệm) nhằm súc rửa  lớp đệm hữu cơ.
            Nồng độ TKN trong phân lợn đo được cũng rất cao. Mặc dù đỉnh là 1800 mg N-TKN/l, nồng độ này của nước thải tại máy lọc vẫn duy trì dưới 500 mg, hiệu suất trung bình là 75%. Tuy nhiên nếu lưu lượng không khí từ các chuồng nuôi giảm đi sẽ làm giảm hiệu suất của máy lọc. Mặc dù hầu hết các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng chỉ một lượng nhỏ phôt pho được hấp phụ, tuy nhiên các số liệu thực tế trong nghiên cứu này đã chứng minh rằng lượng Ptot trung bình giảm đi 80%. Với khả năng hấp phụ như vậy nồng độ Ptot trong nước thải vẫn  duy trì dưới 50 mg Ptot/l.
            Nồng độ NH3 và H2S trong không khí xung quanh trại lợn trước và sau khi sử dụng máy lọc được trình bày trong các bảng biểu kèm theo tài liệu này. Sự gia tăng nồng độ các khí này tại đầu vào máy lọc vào những ngày cuối của mùa hè được cho là do sự giảm khả năng thông gió của không khí xung quanh trang trại. Tuy nhiên trong mùa đông hệ thống làm việc ổn định do nó được thiết kế đáp ứng các tiêu chuẩn hiện có. Dòng không khí được lưu chuyển đi trong toàn bộ ống thông gió cung cấp cho máy lọc.
            Khí amoniac là thành phần khí chính với nồng độ thay đổi từ 1.0 đến 71 ppm. Nồng độ H2S  trong không khí tại trang trại (từ 0.03 đến 0.21 ppm) tuy thấp nhưng vẫn vượt quá ngưỡng mùi của nó.
            Hiệu suất loại bỏ amoniac của hệ thống thay đổi từ 94 đến 100%. Đối với HS người ta không thể tìm thấy sự xuất hiện của nó tại cửa ra của máy lọc. Như vậy có thể thấy mặc dù nồng độ của các chất gây ô nhiễm tăng lên nhưng hệ thống vẫn hoạt động rất tốt, đạt hiệu suất cao.
            Các kết quả đo độ nhận cảm thể hiện một sự khác biệt rõ rằng giữa không khí ô nhiễm và không khí đã được xử lý. Sự khác biệt này phần lớn là do cường độ mùi hôi và khả năng cảm nhận mùi của từng người trong ban phân tích Không khí tại trang trại trước khí xử lý dù được thay đổi cường độ từ trung bình đến mạnh nhưng vẫn gây ra mùi khó chịu. Tuy nhiên sau khi xử lý không khí đã có mùi dịu hơn và có thể chấp nhận được. Hiệu quả của máy lọc sinh học xét về khả năng khử mùi hôi không bị ảnh hưởng nhiều từ sự thay đổi vật chất hữu cơ có trong thành phần phân.
            Không khí tại cửa ra của máy lọc có mùi ẩm của đất (mùi đặc trưng của than bùn). Như vậy vai trò của máy lọc được tăng lên gấp đôi: vừa làm biến đổi các khí ô nhiễm của trại lợn (NH3 và H2S) vừa có thể tạo ra mùi dễ chịu cho dòng khí.
            Tái sử dụng bùn lắng
            Chất bùn nhão từ phân lợn sau khi được khử mùi và ổn định bởi quá trinh phân hủy yếm khí vẫn lưu giữ được các giá trị dinh dưỡng để làm phân bón. Lượng bùn này chỉ chiếm từ 15 đến 20% thể tích phân được rải, do đó làm giảm một cách đáng kể các chi phí vận chuyển có liên quan đến quá trình rải phân. Bảng 2 dưới đây chỉ ra rằng các thông số kỹ thuật của bùn rất phù hợp để làm phân bón. Nó chứa 77% các vật chất hữu cơ, 3.8%  nito, 2.1% photpho và 0.9% kali. Người ta cũng nhận thấy rằng trong bùn lắng không có vi khuẩn hình que và có một sự giảm đáng kể vi khuẩn E.coli.
Bảng 2: Các đặc tính của bùn lắng từ phân lợn
Thông số
Giá trị
Tỷ lệ nước (%)
89
Vật chất hữu cơ
77
C/N
10.2
pH
6.8
Mật độ khối (kg/m3)
1030
Nito
4.3 (3.8%)
Photpho
2.4 (2.1%)
Kali
1.0 (0.9%)
 Chú ý: Hàm lượng vật chất hữu cơ được biểu diễn bằng % dưới dạng khô
            Hàm lượng nito, photpho và kali có đơn vị kg/m.t dưới dạng ướt, các kết quả trong ngoặc là các kết quả dưới dạng khô.
            4. Kết luận
            Các kết quả từ nghiên cứu này đã chỉ ra rằng máy lọc sinh học với lớp đệm hữu cơ (BIOSORTM) là một phương pháp sinh học rất đáng tin cậy để xử lý nước và khí thải từ các trang trại nuôi lợn. Thực tế thì kỹ thuật BIOSORTM đã được sử dụng để xử lý phân lợn trên toàn thế giới. Kỹ thuật này có thể làm giảm lượng chất gây ô nhiễm trong phân lợn tới hơn 90% và loại bỏ gần 95% lượng mùi hôi thoát ra từ chuồng nuôi, kho chứa, từ quá trình vận chuyển và rải phân. Hệ thống BIOSORTM được lắp đặt trực tiếp tại trại nuôi mà không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của trang trại. Nó cũng cho phép tái sử dụng các hệ thống đã lắp đặt trước.
            Như ta đã biết phân lợn là một chất thải có chứa hàm lượng cao photphat các vật chất hữu cơ có chứa nito và cặn lơ lửng. Thêm vào đó, thành phần phân lại thường có nhiều thay đổi và phát ra các mùi hôi khó chịu. Các giá trị đo được thường cao hơn từ 60 đến 100 lần các giá trị tương ứng của nước thải sinh hoạt.
            Các nghiên cứu về tốc độ loại bỏ chất gây ô nhiễm cũng chỉ ra rằng hệ thống BIOSORTM  hoạt động tốt cả khi biên độ thay đổi nhiệt độ và lượng vật chất hữu cơ của thành phân lỏng của phân là lớn. Mặc dù hàm lượng BOD5 (10000-20000 mg/l), SS (10000-20000 mg/l), TKN (2000-3800 mg/l) và Ptot (500-900 mg/l) có thay đổi lớn nhưng hệ thống BIOSORTM vẫn có thể duy trì hiệu suất làm sạch lên tới > 95% đối với BOD5, >97% đối với SS, >75% đối với TKN và > 87% đối với Ptot. Nước phân sau xử lý có thể sử dụng làm nước rửa cho các chuồng nuôi, làm nước tưới hoặc dùng có thể xả cho các bãi rác.
            Các kết quả đo cũng cho thấy hàm lượng NH3 và H2S trong không khí tại các chuồng nuôi thay đổi theo mùa lần lượt từ 1.0 đến 7.1 và từ 0.03 đến 0.21. Một hệ thống lọc sinh học vận hành với lưu lượng khí 7000 m3/ giờ có thể xử lý từ 94 đến 100% lượng amoniac và 100% đối với hydro sulfit có trong khí thải.
            Sử dụng máy lọc sinh học cũng đem lại một sự khác biết đáng kể giữa không khí ô nhiễm và không khí đã được xử lý. Không khí ô nhiễm có mùi khó chịu nhưng không khí đã qua xử lý lại có mùi có thể chấp nhận được. Hệ thống như vậy đã làm giảm một cách đáng kể cường độ mùi hôi thoát ra.
            Bùn lắng đã qua ổn định, chiếm khoảng 15 đến 20% tổng thể tích nước phân được rải, vẫn lưu giữ đươc các chất dinh dưỡng có lợi cho cây trồng. Phân tích chất bùn nhão này cho ta các kết quả rất thuyết phục về khả năng tái sử dụng nó vì các mục đích nông nghiệp (77% lượng vật chất hữu cơ, 3.8% TKN, 2.1% Ptot và 1% Ktot ở dạng khô). Hơn nữa, trong bùn không có vi khuẩn hình que và lượng vi khuẩn E. coli cũng được giảm đáng kể. Các đặc tính trên của bùn ổn định làm giảm chi phí vận chuyển khi rải phân và sẽ làm tăng khả năng sử dụng phân với hiệu quả kinh tế cao.
            Sau khi xem xét các kết quả nghiên cứu trên, có thể khẳng định một điều rằng quy trình xử lý BIOSORTM là một kỹ thuật đáng tin cậy, đơn giản và hiệu quả, là một giải pháp mang tính toàn cầu nhằm xử lý các vấn đề về môi trường do chất thải của lợn gây ra. Do đó từ nay kỹ thuật này có thể giải quết những lo ngại của con người nảy sinh trong quá trình phát triển ngành chăn nuôi lợn.
            5. Lời cảm ơn
            Công trình nghiên cứu này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ về tài chính của Conseil de recherches en peche et en agroalimenatair du Quebec (CORPAQ - MAPAQ), của FPRQ, của công ty NPD (Quebec), của Ministere de l’agriculture des pecheries et de l’alimentation du Quebec và của công ty Porcherie Orleans. Các tác giả cũng cảm ơn công ty Bel Environement về các hỗ trợ kỹ thuật giành cho nghiên cứu này. 

Tác giả: Paul Lessard - Người dịch: Nguyễn Quốc Hùng, Phạm Thị Thanh Hoa, Trịnh Quang Tuyên
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com