Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt của loài cà phê có (danh pháp khoa học
là: Coffea arabica) do loài cà phê này có lá nhỏ, cây
thường để thấp giống cây chè một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt
Nam.
Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê. Cà
phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới. Cà phê arabica còn
được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil,
gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia,
và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác. Qua đó có thể
thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này,
chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất. Các nước xuất khẩu
khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala,
Honduras,
Peru, Ấn Độ.
Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao. Người ta thường trồng nó ở
độ cao từ 1000-1500 m.
Cây có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval. Cây cà phê trưởng thành có
thể cao từ 4-6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. Quả hình bầu
dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê.
Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho
thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch
được nữa. Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm. Cây
cà phê arabica ưa thích nhiệt độ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm.
Trên thị trường cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (coffea canephora hay coffea
robusta) vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein
hơn. Một bao cà phê chè (60 kg) thường có giá cao gấp 2 lần một bao cà
phê vối. Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế
giới nhưng chủ yếu là cà phê vối. Năm 2005 dự kiến
diện tích trồng cà phê chè mới đạt khoảng 10% tổng diện tích trồng cà
phê cả nước (khoảng 40.000 ha/410.000 ha).
Giống và đặc tính của giống cà phê chè
+
Giống: Là một cây thụ phấn nên hầu hết các giống cây cà phê chè hiện
đang được trồng ở trong nước như: Bourbon, Typica, Caturra, Catuai,
mundo, Novo, Catimor…. Hiện nay, ở nước ta giống cà phê Catimor đang
được trồng phổ biến tại một số tỉnh như Lâm Đồng, ĐakLak, Gia Lai, …
+ Đặc tính giống: Catimor có bộ tán
che kín thân, vì vậy hạn chế được sự phá hoại của sâu đục thân (loại sâu
này có tập tính không thích đẻ trứng vào nơi thiếu ánh sáng). Nếu thâm
canh tốt, 1 ha cà phê Catimor sẽ cho năng suất đạt 4 – 5 tấn. Do có năng
suất cao, kháng bệnh gỉ sắt, hương vị thơm ngon, giá bán cao hơn khoảng
1,5 lần so với cà phê vối nên cà phê Catimor được trồng nhiều nơi trên
thế giới.
Nguyên tắc chung về thời vụ trồng cà phê
Nguyên
tắc chung của thời vụ trồng thích hợp là vào đầu mùa mưa khi đất đã đảm
bảo được độ ẩm. Thời vụ trồng đối với các tỉnh ở Tây Nguyên phù hợp
nhất là trong tháng 6. Nếu năm mưa sớm cây con đã đủ tiêu chuẩn trồng
thì có thể trồng vào tháng 5. Những năm mưa muộn có thể trồng sau tháng
7. Những vùng có chế độ mưa chấm dứt vào cuối năm thì có thể trồng muộn
hơn. Trong kinh tế vườn có thể trồng muộn vào cuối mùa mưa nếu trong mùa
khô có đủ nước tưới và có tủ gốc dày.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê chè
1. Kỹ thuật trồng
Đất trồng cà phê phải được cày bừa kỹ, dọn sạch cỏ dại trước khi trồng. Dùng giống chống bệnh gỉ sắt (Catimor).
Mật
độ, khoảng cách trồng: ở những nơi đất không có độ phì cao thì trồng
với mật độ 6666 cây/ha, tương ứng với khoảng cách: hàng cách hàng 1,5 m;
cây cách cây: 1m; ở những nơi đất tốt, trồng với mật độ 5000 cây/ha,
tương ứng với khoảng cách: hàng cách hàng 2m; cây cách cây: 1,5m; ở
những nơi đất trung bình có thể trồng với mật độ 3333 cây/ha: hàng cách
hàng 2m, cây cách cây: 1 m.
Khi
cây cà phê còn nhỏ, trồng xen các cây ngắn ngày như đậu đỗ, lạc… để
tăng thu nhập, đồng thời chống cỏ dại, tạo bóng mát giữ ẩm chống xói mòn
và cải tạo đất. Việc trồng xen các cây ngắn ngày vào giữa hàng cà phê
còn góp phần đảm bảo tính đa dạng thực vật cho sinh quần cây cà phê. Cây
trồng xen tạo ra nguyên liệu để tủ gốc và ép xanh. Một vườn cây trồng
xen tốt có thể cung cấp cho lô cà phê hàng trăm cân đạm nguyên chất/ha
và nhiều chất dinh dưỡng, chất khoáng khác. Nhờ đó khu hệ thiên địch tự
nhiên được thiết lập nhanh hơn và trở nên phong phú hơn sẽ góp phần hạn
chế số lượng sâu hại cà phê.
Cây
cà phê rất cần che bóng. Các cây che bóng (như keo dậu, muồng…) được
trồng với mật độ vừa phải, rải đều trên vườn cà phê, nhằm tạo ánh sáng
tán xạ và che chắn sương muối vào mùa đông cho cà phê. Cây che chắn phải
đảm bảo thông thoáng để tránh bệnh gỉ sắt cà phê phát triển mạnh.
2. Kỹ thuật chăm sóc
Phải
thường xuyên xới xáo quanh gốc cây để diệt cỏ và tạo độ tơi xốp cho đất
quanh cây cà phê. Sau khi xới xáo, dùng rác và cỏ tủ gốc cho cây cà
phê. Bón phân hoá học cân đối kết hợp với phân hữu cơ hợp lý, đầy đủ
nhằm giúp cây cà phê sinh trưởng, phát triển tốt để tăng sức chống chọi
với sâu bệnh. Đặc biệt, khi cây cà phê phát triển nhiều cành lá xum xuê,
rậm rạp sẽ tăng độ che kín thân cây góp phần cản trở sự tấn công của
sâu đục thân và sâu tiện vỏ cà phê.
Trước
khi bón phân phải làm sạch cỏ. Vườn cà phê chăm sóc kém tạo điều kiện
bệnh khô cành và khô quả phát triển mạnh. Nếu thời tiết có sương muối,
trước đó phải phun tưới nước lên tán lá cây cà phê. Sau các đợt sương
muối phải chăm sóc tốt cho cây cà phê nhanh hồi phục để đề kháng với sự
tấn công của các loài sâu bệnh hại.
3. Kỹ thuật tạo hình cà phê
Tạo
hình cho cà phê là một biện pháp kỹ thuật rất quan trọng thông qua việc
cắt tỉa để tạo ra một bộ tán có số lượng thân và cành phân bố đều trong
không gian phù hợp, thông thoáng, tiếp nhận được nhiều ánh sáng mặt
trời để cho cây quang hợp tốt tạo ra năng suất cao và ổn định. Đây là
biện pháp kỹ thuật vừa giúp cây cà phê có các cành hữu hiệu phân bố đều
trong tán vừa có tán bao phủ che chắn thân cây để cản trở sự tấn công
của sâu đục thân cà phê.
Trong
khi sửa cành tạo hình hạn chế việc cắt bỏ cành cấp 1 (trừ khi cành cấp 1
bị sâu bệnh); chú ý cắt bỏ các cành bị sâu đỏ đục, bị bệnh nấm hồng hay
bệnh khô cành. Cắt tỉa hợp lý các cành vô hiệu sao cho tạo được sự
thông thoáng hợp lý của tán lá nhưng vẫn che chắn được thân cây cà phê .
Độ
co hãm ngọn thường từ 1,4 đến 1,6 m kể từ gốc cây đến vị trí hãm ngọn.
Riêng đối với cà phê Catimor độ cao hãm ngọn khoảng 1,8 m hoặc không hãm
ngọn. Khi cây cà phê đã cao đến vị trí muốn hãm ngọn thì dùng kéo cắt
cành cắt phần ngọn ở vị trí trên cặp cành cuối cùng khoảng 1 cm. Sau khi
cắt cành chất dinh dưỡng sẽ tập trung nuôi dưỡng cho các cành còn lại
phát triển và phát sinh các cành thứ cấp. Tạo hình tốt làm bộ tán thông
thoáng sẽ làm cho quả cà phê to hơn, đạt năng suất cao, bền và thuận lợi
khi tiến hành phun thuốc phòng trừ sâu bệnh.
Sau
mùa thu hoạch cần cắt bỏ những cành khô, những phần cành sinh trưởng
yếu ớt, những cành bị sâu bệnh để những phần còn lại phát sinh những
cành mới sẽ cho quả trong mùa sau.
Phương pháp thu hoạch cà phê
-
Yêu cầu đầu tiên đối với việc thu hái cà phê là hái đúng tầm chín. Để
có cà phê chất lượng cao nhất thiết phải có quả chín đỏ hay vừa chín,
không hái quả xanh. Không để quả chín nẫu hay khô trên cây. Nếu có lẫn
những loại này thì cần bỏ ra phơi riêng.
- Trong sản phẩm thu hoạch số quả chín hoặc vừa chín nhất là 95%, trừ đợt thu hoạch lần cuối tỷ lệ có thể thấp hơn.
-
Hái cà phê bằng cách dùng ngón tao bứt quả, không tuốt cành, không bứt
cả chùm đối với cà phê chè. Phải bảo vệ cành, lá, nụ tránh ảnh hưởng tới
vụ sau. Không để quả cà phê lẫn vào trong đất dễ bị nhiễm nấm bệnh.
-
Cà phê hái xong phải chế biến ngay. Nếu không kịp phải tãi quả cà phê
trên nền gạch thoáng mát, tầng không quá dày 30 – 40 cm. Không ủ đống cà
phê làm cho cà phê lên men. Không giữ cà phê hái về quá 24h.
- Bao bì đựng sản phẩm cà phê quả tươi và phương tiện vận chuyển phải sạch, không có mùi phân bón, mùi hoá chất…
