Latest Post

Showing posts with label Chan nuoi. Show all posts
Showing posts with label Chan nuoi. Show all posts

Thức Ăn Bổ Sung Và Vấn Đề Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm

Written By Chăn Nuôi on Saturday, June 29, 2013 | 11:27 PM

GS, Vũ Duy Giảng
Đại Học nông nghiệp 1 Hà Nội
Thức ăn chăn nuôi bổ sung (feed additives) được Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng Nông nghiệp (2003) định nghĩa như sau: "Thức ăn chăn nuôi bổ sung là những chất được thêm vào thức ăn hay nước uống để thực hiện những chức năng kỹ thuật, chức năng cảm giác, chức năng dinh dưỡng, chức năng chăn nuôi và chức năng phòng chống protozoa" (Quy định EC số 1831/2003).
Theo định nghĩa trên thì thức ăn bổ sung sẽ bao gồm 5 nhóm sau:

1. Thức ăn chăn nuôi bổ sung mang tính kỹ thuật (technological additives) là những chất thêm vào thức ăn vì mục đích kỹ thuật, bao gồm:
- Chất bảo quản                                                 - Chất kết dính
- Chất nhũ hoá mỡ                                            - Chất điều hoà độ axit
- Chất làm biến tính tự nhiên (denaturant)      - Chất chống oxy hoá
- Chất làm bền (stabiliser)                               - Chất keo (gelling agents)
- Chất chống vèn                                               - Phụ gia đưa vào thức ăn ủ lên men vi sinh vật
- Chất khống chế nhiễm phóng xạ hạt nhân (substances for control of radionucleid contamination).
2. Những thức ăn chăn nuôi bổ sung cải thiện tính chất cảm quan (sensory additives) là những chất thêm vào thức ăn để cải thiện hay làm biến đổi tính chất cảm quan của thức ăn, bao gồm:
- Chất nhuộm mầu (tăng mầu hay phục hồi mầu thức ăn, mầu của sản phẩm động vật hay những chất làm tươi mầu của cá hay chim cảnh).
- Hương liệu làm tăng mùi vị và độ ngon của thức ăn.
3. Thức ăn chăn nuôi bổ sung dinh dưỡng (nutritional additives), bao gồm:
- Vitamin hay provitamin.
- Hợp chất chứa nguyên tố vi khoáng.
- Axit amin hay muối của axit amin và những đồng phân của axit amin.
- Urê và những dẫn chất của urê.
4. Thức ăn chăn nuôi bổ sung chăn nuôi (zootechnical additives) là những chất có ảnh hưởng tốt đến thành tích sản xuất cũng như sức khoẻ động vật và những chất có ảnh hưởng tốt đến môi trường, bao gồm:
- Các chất nâng cao khả năng tiêu hoá như axit hữu cơ, enzyme.
- Các chất làm cân bằng vi sinh vật đường ruột như axit hữu cơ và muối của chúng, probiotic, prebiotic, chất chiết thảo dược có tác dụng diệt khuẩn, diệt nấm mốc.
- Những chế phẩm có tính miễn dịch như sữa đầu, lòng đỏ trứng làm giầu bằng kháng thể hoặc các chất kích thích miễn dịch như probiotic, nucleotid chế tạo đặc biệt.
- Các chất khử mùi hôi trong phân (deodorant), khử độc mycotoxin...
Trong nhóm này hormon tuy nâng cao thành tích sản xuất của động vật nhưng không được EC cho phép sử dụng.
5. Coccidiostats và histomonostats, đó là nhóm thuốc phòng chống protozoa dùng như thức ăn bổ sung như monensin, amprolium, decoquinate, lasalocid...
Kháng sinh inophore cũng được xếp vào nhóm này, tuy nhiên inophore như monensin ngoài tác dụng phòng bệnh do protozoa còn có tác dụng điều chỉnh sự cân bằng vi khuẩn dạ cỏ, tăng khả năng lợi dụng thức ăn và khả năng tăng trưởng của động vật nhai lại.
6. Sử dụng thức ăn bổ sung mang lại nhiều lợi ích cho năng suất và hiệu quả chăn nuôi, nhưng lạm dụng thức ăn bổ sung sẽ gây những hậu quả xấu đến vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hậu quả xấu của thức ăn bổ sung được nhận biết sớm là hormon dùng trong chăn nuôi. Những hormon thường dùng là: Somatotropin cho bò (BST: Bovine Somatotropin): Đây là một hormon sinh trưởng do thuỳ trước tuyến yên của bò tiết ra. Năm 1985, Bauman và Eppard của trường Đại học Cornell và Degeeter báo cáo rằng sản lượng sữa 3,5% bơ của bò được tiêm somatotropin tự nhiên hoặc somatotropin tái tổ hợp đã tăng từ 16% đến 41% so với đối chứng. Bò được tiêm hormon này tiêu thụ thức ăn nhiều hơn và hiệu quả chuyển hoá thức ăn cũng cao hơn, tốc độ tăng trọng của bò cái tơ tăng 8-10% và các mô tiết của tuyến sữa cũng phát triển tốt. Năm 1994, Tổ chức Thực phẩm và thuốc (FDA - Hoa kỳ) và Hội đồng Marketing Sữa của Anh đã cho phép mua bán sữa của bò xử lý BST.
Somatotropin cho lợn (PST: Porcine Somatotropin): giống như BST hormon này do thuỳ trước tuyến yên của lợn tiết ra. Tiêm PST cho lợn nái tiết sữa, lợn sản xuất nhiều sữa hơn, lợn cai sữa nặng cân hơn, lợn vỗ béo lớn nhanh hơn và tỷ lệ nạc thân thịt cao hơn.
Malengestrol acetate ((MGA): đây là hormon progestogen tổng hợp có cấu trúc và hoạt tính cao hơn 30 lần so với progesterone, nó có tác dụng ức chế động dục và kích thích tăng trưởng (tốc độ tăng trọng tăng 10%, hiệu quả chuyển hoá thức ăn tăng 6%). Hormon này được FDA cho phép sử dụng cho bò cái không mang thai. MGA thường dùng bằng cách trộn vào thức ăn với liều 0,40mg/bò/ngày, thời gian ngưng dùng thuốc là 48 giờ trước khi đưa vào lò mổ.
Ngoài ra nhiều loại khác cũng được FDA cho phép dùng, đó là trenbolone acetate (một loại androgen tổng hợp có hoạt tính lớn hơn testosterone vài lần), estradiol (estradiol benzoate, estradiol beta-17), progesterone, zeranol (một estrogen do nấm Fusarium sinh ra), testosterone propionate, người ta cũng dùng một số hỗn hợp hormon như hỗn hợp estradiol benzoate với progesterone (tên thương phẩm Steer - oid) hay với testosterone (tên thương phẩm là Heifer - oid).
Theo tạp chí Sustainable Table thì hàng năm có khoảng 24 triệu con bò thịt, chiếm 2/3 tổng số bò nuôi thịt ở Mỹ được xử lý hormon.
Các nhà khoa học chỉ ra rằng dư lượng hormon trong thịt có thể làm rối loạn cân bằng hormon của người. Tiêu thụ các loại thịt này, làm cho những bé gái dậy thì sớm và dễ dẫn đến ung thư vú và các dạng ung thư khác. Sử dụng hormon cho động vật cũng có tác hại đến môi trường do hormon thải ra từ phân làm hệ sinh thái nước bị thay đổi, khả năng sinh sản của cá bị rối loạn.
Những nghiên cứu trên chuột tiêm DES (diethylstylbestrone, một hormon dùng phổ biến ở Mỹ để kích thích tăng trưởng của bò và cừu nuôi thịt từ 1970 trở về trước, hiện nay đã bị cấm sử dụng ở tất cả các nước) cho thấy ở chuột cái cấu trúc ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo bị biến dạng; viêm vòi trứng dạng hạt, chuột cái trưởng thành không có khả năng sinh sản; chuột đực bị biến dạng ống sinh tinh, khi trưởng thành xuất hiện khối u dịch hoàn.
Các hormon khác cũng được cho là có những tác hại nguy hiểm như estradiol -17 beta có thể gây kích thích hình thành và phát triển khối u, làm giảm sự phát triển tuyến ức, dẫn đến nguy cơ suy giảm hệ thống miễn dịch; thử nghiệm trên động vật thí nghiệm đã thấy progesterone làm tăng tỷ lệ khối u tuyến vú, buồng trứng, tử cung và âm đạo, nuôi chuột bằng thức ăn chứa trenbolone hay zeranol đã thấy chuột bị khối u gan, tuyến yên và tuyến tuỵ; melengestrol acetate (một hormon tương tự DES) cấy dưới da cho chuột cái đã thấy tăng tỷ lệ khối u tuyến vú.
Những theo dõi trên người suốt trong 28 năm ở Puerto Rico người ta đã xác định có tới 10.000 trường hợp trẻ em phát triển tính dục bất thường như vú to, mọc lông ở cơ quan sinh dục sớm, dậy thì sớm (Perez-comas 1988). Những hiện tượng tương tự cũng được ghi nhận ở Italy mà người ta cho rằng đó là do tiêu thụ thịt có tồn dư DES (Fara et al., 1999, Pasquino et al., 1982).
Trong một nghiên cứu điều tra trên 17.000 bé gái giữa 3 đến 12 tuổi đã thấy 27,2% bé gái Mỹ da đen và 6,7% bé gái Mỹ da trắng ở 7 năm tuổi có hiện tượng vú to và mọc lông sớm ở cơ quan sinh dục; báo cáo điều tra cho rằng hiện tượng dậy thì sớm đã khá phổ biến ở Mỹ (Herman-giddens et al., 1997).
 Người ta cũng quan sát thấy tỷ lệ ung thư vú rất cao ở phụ nữ Bắc Mỹ, tỷ lệ này giảm dần ở các nước châu âu, châu Đại dương, Trung và Nam Mỹ và thấp nhất ở các nước châu ¸ và châu Phi.
Tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt cũng rất cao ở Mỹ. Trong một nghiên cứu điều tra của Parkin et al., 1997 đã thấy tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở tỉnh Qitong - Trung Quốc là 0, 5 trên 100.000 người đàn ông trong khi tỷ lệ này ở Atlanta, Mỹ lên tới 142,3/100.000 người.
Nguyên nhân của những rối loạn trên được cho rằng đó là do tiêu thụ thịt xử lý hormon, ngoài ra cũng có thể do sử dụng nhiều các mỹ phẩm, đặc biệt thuốc nhuộm tóc, chứa hormon sinh dục (estrogen).
Do những nguy cơ này mà EU đã cấm sử dụng hormone cho bò cũng như cấm nhập bò có xử lý hormon từ năm 1988. Tuy nhiên Mỹ và Canada cho đến nay vẫn tiếp tục cho phép sử dụng 6 loại hormon, 3 loại hormon tự nhiên (oestradiol-17b, testosterone, progesterone) và 3 loại hormon tổng hợp (zeranol, trenbolone acetate and melengestrol acetate đơn hay kết hợp).
sử dụng hormon này trong ngành công nghiệp bò. Bradford Duplisea trong một bài viết trên website của Canadian Health Coalition đã viết rằng: "Sử dụng những hormon không vì mục đích điều trị hay những mục đích không quan trọng là vô trách nhiệm, nó không đem lại lợi ích nào mà chỉ đem lại những rủi ro cho người tiêu thụ. Sức khoẻ cộng đồng cần phải đặt lên trên lợi tức của ngành công nghiệp bò. Hãy làm theo lẽ phải và cấm sử dụng hormon cho bò".
7.  Các hoá chất thuộc nhóm pheethanolamine như ractopamine, clenbuterol, sabutamol, cimaterol, zilpaterol... cũng đã được dùng làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi. Phenethano -lamine được coi là những tác nhân phân phối lại (repartitioning agents), chúng điều khiển các chất dinh dưỡng hướng vào mô cơ mà không hướng vào mô mỡ, nhờ đó làm tăng độ nạc thân thịt. Những năm 70 của thập kỷ trước người ta đã đưa clenbuterol vào trong thức ăn của bò để làm cho bò có mông vai nở nang và đem bò dự thi tại các hội chợ. Sau đó clenbuterol và những hoá chất thuộc nhóm pheethanolamine đã được dùng trong thức ăn cho gia súc nuôi thịt với mục đích thúc đẩy tăng trưởng và độ nạc. Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy rằng dư lượng của clenbuterol tồn tại trong võng mạc mắt và trong tóc lâu tới vài tháng và người tiêu thụ gan động vật ăn thức ăn chứa clenbuterol có biểu hiện run rẩy, tim đập nhanh, đau đầu, chóng mặt và buồn nôn. Các hoá chất này cũng đã bị cấm sử dụng ở nước ta và nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên một số nhà sản xuất vô lương tâm vẫn sử dụng bất hợp pháp các hoá chất này (báo Thanh niên số ra ngày 7 tháng 7 năm 2006 đưa tin Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã phát hiện thấy 1/12 mẫu thức ăn chăn nuôi và 6% mẫu thịt điều tra có dương tính với clenbuterol, một khảo sát khác của chi cục thú y thành phố Hồ Chí Minh cũng cho biết 1/17 mẫu thức ăn và 15,57% mẫu thịt gia súc gia cầm được kiểm tra có dương tính với chất trên).
Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm cũng là một vấn đề lớn của vệ sinh an toàn thực phẩm. Tác hại của tồn dư kháng sinh đến sự nhờn thuốc và mất hiệu lực của kháng sinh trong việc điều trị các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã được nhiều nhà khoa học cảnh báo và được báo chí nói đến nhiều. Tuy nhiên việc kiểm soát sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi lại khác nhau giữa các nước.
Năm 1986 Thuỵ Điển là nước đầu tiên trên thế giới áp dụng lệnh cấm sử dụng kháng sinh như một chất kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi. Năm 1988 những người chăn nuôi lợn và gia cầm Đan Mạch cũng tự nguyên không dùng kháng sinh trong thức ăn. Cộng đồng Châu âu cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi như một chất kích thích sinh trưởng từ tháng 1 năm 2006. Australia bắt đầu kiểm soát việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi từ khá sớm; những kháng sinh như fluoroquinolones, amphenicols, colistin, gentamicin, carbadox không được phép sử dụng từ 1980 và nitrofurans không được phép sử dụng từ năm 1992. Mỹ và Canada cho phép dùng kháng sinh thức ăn cho gà thịt, lợn con, bê và bò thịt. Trung quốc cho phép sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi từ 1989, tuy nhiên chỉ cho phép sử dụng những kháng sinh nào không dùng để điều trị bệnh cho người và động vật, đó là monensin, salinomycin, destomycin, bacitracin, colistin, kitasamycin, enramycin và virginamycin. Nga cũng chỉ cho phép sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đối với những loại kháng sinh không dùng làm thuốc điều trị bệnh, đó là bacitracin, grizin, flavomycin và virginamycin (bảng 1). Nước ta cho đến nay mới chỉ mới cấm sử dụng chloramphenicol, furazolidon và các dẫn xuất thuộc nhóm nitrofuran (Quyết định số 54/2002/QĐ-BNN ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2002).
Bảng 1: Các kháng sinh được phép sử dụng như một chất kích thích tăng trưởng ở Australia, EU và Mỹ
(theo chấp nhận của WTO 1997, Uỷ ban phối hợp chuyên gia tư vấn kỹ thuật về kháng kháng sinh, 1998)
Loại
Kháng sinh
Australia
EU
USA
Arsenical
3-Nitro-arsonic acid và những chất khác
Lợn, gia cầm

Lợn, gia cầm
p-Lactams
Penicillin


Lợn
Glycopeptides
Avoparcin
Lợn, bò và gia cầm thịt
Cấm dùng 1996

Line os amides
Lincomycin



Macrolides
Erythromycin
Kitasamycin
Oleandomycin
Tylosin
Spiramycin


Lợn

Lợn


Cấm dùng 1996
Cấm dùng 1996
Lợn
Lợn
Oligosaccharides
Avilamycin
Tamulin
Lasolocid

Gia cầm thịt, lợn

Lợn
Pleuromutilins
Monensin
Narasin
Salinomycin
Bacitracin

Bò
Bò
Bò, lợn
Bò thịt
Lợn
Cấm dùng 1999
Bò

Lợn, gia cầm, bò
Polyp eptides
Carbadox
Olaquindox
Gia cầm thịt


Lơn
Quinoxalones
Virginamycin
Lợn
Cấm dùng 1999
Lợn, gia cầm, bò
Streptogramins
Tetracycline
Lợn, gia cầm thịt

Lợn, gia cầm, bò
Tetracyclines
Flavophospholipol

Gia cầm

Bambermycins

Lơn, gia cầm, bò


*EU: Cấm sử dụng kháng sinh thức ăn chăn nuôi từ 1/2006 trừ monensin
8. Các kim loại nặng như asen, chì, cadimi, thuỷ ngân... cũng có thể lẫn trong thức ăn chăn nuôi và đi vào sản phẩm động vật khi con vật ăn các loại thức ăn này. Thức ăn chăn nuôi lẫn kim loại nặng có thể là do sử dụng hoá chất diệt mối, mọt trong kho, sử dụng bột cá chế biến từ cá nhiễm các kim loại nặng. Một số kim loại như đồng, kẽm, selen, molipden... nhiễm vào thức ăn lại do sử dụng premix khoáng quá mức hoặc những nguồn khoáng để sản xuất premix khoáng không được tinh chế.
Các chất khoáng bổ sung vào thức ăn không những gây những tác hại về vệ sinh an toàn thực phẩm mà còn gây tác hại về môi trường.
Xin nêu một trường hợp về ô nhiễm đồng: Trong chăn nuôi lợn thịt người ta thường đưa thêm đồng vào thức ăn, đồng có tác dụng kích thích tăng trưởng như kháng sinh. Lượng đồng bổ sung vào thức ăn cho lợn có thể cao tới 400 ppm (400 mg/kg thức ăn), chỉ một phần đồng hấp thu được sử dụng vào quá trình chuyển hoá, một phần lớn thải ra ngoài theo phân, gây ô nhiễm đất và nước.
Các chất khoáng khác trong phân và nước tiểu gia súc, gia cầm như nitơ, kali, phospho...thải ra từ những cơ sở chăn nuôi tập trung, chăn nuôi không gắn với trồng trọt, là những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm nặng nề nhất cho môi trường.
Chăn nuôi càng phát triển thì việc sử dụng thức ăn công nghiệp ngày càng mạnh. Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, khâu kiểm soát thức ăn công nghiệp, đặc biệt là thức ăn bổ sung là một trong những khâu quan trọng nhất trong tất cả các khâu. Người ta thường nói "an toàn thức ăn để an toàn thực phẩm" (tiếng Anh: "safe feed for safe food") là như­ vậy.

Những Tiến Bộ Mới Trong Chuồng Trại Và Quản Lý Chất Thải Trong Chăn Nuôi

Vũ Chí Cương

Phần 1. Biến đổi khí hậu, môi trường và vai trò của chăn nuôi

Biến đổi khí hậu và môi trường đang là một vấn đề nóng hổi được quan tâm không những chỉ bởi các nhà khoa học mà cả các chính trị gia và toàn bộ cộng đồng. Hội nghị thế giới tại Copenhagen (Đan mạch) do Liên hợp quốc tổ chức gần đây là một ví dụ về sự nóng hổi này. Biến đổi khí hậu và môi trường ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống loài người, trong đó có chăn nuôi. Nhằm cung cấp cho các đọc giả của Tạp chí khoa h ọc và công nghệ Viện chăn nuôi một cái nhìn tổng quát nhất về biến đổi khí hậu và môi trường, đóng góp của chăn nuôi vào các biến đổi này cũng như chiến lược chăn nuôi nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu và môi trường, bài tổng quan này được viết trên cơ sở tham khảo các tài liệu và các tri thức hiện hữu. Do bài viết dài, thông tin khá nhiều, nên sẽ được chia làm hai phần, đăng ở hai số khác nhau của tạp chí.

Biến đổi khí hậu là sự mất cân bằng lâu dài của các yếu tố thời tiết như: nhiệt độ, gió, mưa của một vùng nào đó trên hành tinh (Najeh Dali, 2008). Thay đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất loài người phải đối mặt ở thế kỷ này. Khí hậu trái đất đã nóng lên bình quân 0,7o c trong 100 năm qua và thập kỷ 1990 -2000 là thời kỳ nóng nhất, mưa đã thay đổi theo cả không gian và thời gian, mức nước biển dâng cao 25 cm, b ăng vùng cực đang tan (Watson, 2008). Nhiệt độ của trái đất hiện đã tăng lên vì sự tăng nồng độ khí nhà kính (Green house gases- GHG) do các ho ạt động của con người chủ yếu là sự bốc thoát CO2 do đốt các nhiên liệu hóa thạch, phá rừng ở nhiệt đới và CO2, CH4, N2O... từ nông nghiệp và chăn nuôi (Najeh Dali, 2008). Ng ười ta dự tính: do tăng nồng độ khí nhà kính nhiệt độ bề mặt trái đất sẽ tăng từ 1,1 đến 6,4 oc từ 1990 đến 2100, đất liền nóng lên nhiều hơn các đại dương và vùng vĩ độ cao nóng lên nhi ều hơn vùng nhiệt đới (Watson, 2008). Mưa toàn cầu sẽ tăng lên, nhưng ở một số vùng mưa tăng, một số vùng lại giảm, mực nước biển sẽ tăng cao 0,5 m t ừ 1990 đến 2100 chưa tính đến băng tan ở vùng cực và sẽ có nhiều ngày nóng, nhiều lụt lội và khô hạn (Watson, 2008).

1.1. Ảnh hưởng chung của thay đổi khí hậu
Thay đổi khí hậu sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng sinh thái, sức khỏe con người và phát triển bền vững đặc biệt ở các nước phát triển (Najeh Dali, 2008), nơi mà các điều kiện cần thiết để thích ứng với biến đổi khí hậu còn chưa sẵn sàng. Nóng lên ở một số vùng ảnh hưởng đến hệ sinh thái nhiều vùng trên quả đất (Seguin, 2008). Đã thấy có các thay đổi về phân bố của các loài, thay đổi về kích cỡ của quần thể, thay đổi về thời gian sinh sản, thời gian di cư, tăng mạnh các vụ bùng nổ dịch bệnh động vật và côn trùng có hại (Seguin, 2008). Trong khi châu Âu mùa trồng trọt kéo dài ra trong 30 năm qua, một số vùng của châu Phi thay đổi khí hậu và môi trường đã làm giảm trồng ngũ cốc từ những năm 1970 (Watson, 2008). 

Thay đổi các quần thể cá liên quan đến sự dao động ở qui mô lớn của khí hậu: kiểu hiện tương El-Nino đã làm giảm sản luợng cá đánh bắt được ở ngoài khơi bờ biển Nam mỹ và châu Phi. Các đại dương hiện có độ axit cao hơn nên khả năng hấp thu CO2 giảm đã ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thức ăn (Food chain) (Watson, 2008). Thay đổi khí hậu thế kỷ 21 sẽ nhanh hơn 10 000 năm qua với ảnh hưởng xấu trực tiếp chủ yếu là các nước đang phát triển và người nghèo (Watson, 2008). Các đảo nhỏ, thấp, các vùng châu th ổ của các nước đang phát triển ở Nam á, Nam thái bình dương, Ấn độ dương sẽ biến mất, nằm dưới mực nước biển, 10 triệu người không có đất ở, sốt rét và sốt xuất huyết tăng lên và nghiêm trọng là ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trồng trọt giảm mạnh, ở châu Phi, mỹ la tinh và các nước đang phát triển hiện đã có sẵn nghèo đói và suy dinh duỡng ở trẻ con (Watson, 2008). Thủy điện sẽ không còn là nguồn năng lương đáng tin cậy nữa vì mưa không ổn định ở các vùng vốn đã không có an ninh về năng lượng (thiếu) (Watson, 2008). Nước ngọt ở nhiều vùng của thế giới hiện đang thiếu sẽ trở nên khan hiếm (Watson, 2008). Tăng mất mát của đa dạng sinh học, tăng nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài, đặc biệt những loài đang có nguy cơ cao do số lượng quần thể nhỏ, nơi ở bị hạn chế hoặc bị chia nhỏ (Watson, 2008).

1.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường đến cây trồng
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường trước hết là đến các chức năng sinh lý và sinh thái của cây trồng. Khi hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên sẽ kích thích quá trình quang hợp của cây cỏ, cây rừng cũng như các cây lương thực thực phẩm (Seguin, 2008). Thí nghiệm khí hậu học trong điều kiện có kiểm soát đã cho thấy sự kích thích này. Hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng đã làm tăng quang hợp của các loài thực vật C3 ôn đới như lúa mì, đậu tương lên 10-20% nhưng chỉ làm tăng quang hợp của các loài thực vật C4 nhiệt đới như ngô và cao
lương lên 0-10% (Easterling et al., 2007).

Hình 1: Tăng quang hợp khi hàm lượng CO2 tăng

Nhiệt độ cao hơn sẽ tốt cho sinh trưởng của thực vật vùng ôn đới trừ khi vượt quá ngưỡng nhưng lại không thích hợp cho sinh trưởng của cây cỏ vùng nhiệt đới (Seguin, 2008). IPCC (2007) tóm t ắt các kết quả của nhiều công trình cho thấy: ở các vùng ôn đới tăng nhiệt độ từ 1 – 2 oC cùng với việc tăng CO2 và lượng mưa sẽ có chút ảnh hưởng có lợi đến năng suất cây trồng. Trong khi đó ở các vùng có mùa khô ở nhiệt đới tăng nhiệt độ 1-2 độ đã có ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất của những cây trồng chủ yếu. Easterling et al (2007) cho th ấy một khuynh hướng tương tự cũng xẩy ra với sinh khối của đồng cỏ và chất lượng đồng cỏ. Thay đổi
khí hậu đặc biệt là khô hạn sẽ dẫn đến những thiệt hại khó lường.

1.3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và môi trường đến chăn nuôi
1.3.1. Ảnh hưởng trực tiếp.
Các thảm họa thiên nhiên như hạn hán lụt lội đang tăng lên cũng là mối đe dọa cho chăn nuôi (Hoffmann, 2008). Các thảm họa này có thể làm chúng ta mất đi một số lượng lớn các giống gia súc quý hiếm, giảm đa dạng sinh học (Hoffmann, 2008). Trái đất nóng lên cũng làm tăng stress nhiệt ở gia súc, gia cầm (Hoffmann, 2008).

1.3.2. Ảnh hưởng gián tiếp
Hệ sinh thái thay đổi. Do biến đổi khí hậu và môi trường toàn cầu, các hệ sinh thái cũng sẽ thay
đổi (Hoffmann, 2008). Sự thay đổi này bao gồm thay đổi về đất đai, nguồn nước, thức ăn, đồng cỏ, hệ động thực vật, vi sinh vật (Hoffmann, 2008). Chăn nuôi sẽ bị ảnh hưởng của thay đổi khí hậu và môi trường bởi nhiều cách trong đó có việc tăng tỷ lệ bệnh tật ở gia súc (Watson, 2008; Seguin, 2008), tăng giá các loại thức ăn chăn nuôi (Ørskov, 2008) do mở rộng nhanh chóng diện tích trồng các cây làm nhiên liệu sinh học đã ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên đất trên hành tinh dùng cho sản xuất thức ăn và do đó ảnh hưởng đến cung cấp lương thực thực phẩm và giá cả của thức ăn chăn nuôi (Watson, 2008), nước dùng cho ch ăn nuôi ngày càng trở nên khan hiếm.

Quan hệ giữa vật chủ và các tác nhân gây bệnh thay đổi, nhiều bênh mới và nguy hiểm xuất hiện. Biến đổi khí hậu đã làm tăng áp lực cho chăn nuôi bởi vì số lượng bệnh, đặc biệt là các bệnh mới và nguy hiểm ngày càng tăng (Epstein, 2001). Trong hoàn cảnh mới chỉ có những kiểu gen kháng bệnh hoặc ít mẫn cảm với bệnh sẽ có nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển. Ngoài ra thay đổi từ đòng cỏ C3 ôn đới sang đồng cỏ C4 nhiệt đới và tăng diện tích các cây bụi trên đồng cỏ đã được dự báo trước (Christensen et al., 2004). Sự thay đổi này sẽ làm giảm chất lượng cỏ.

1.4. Hệ lụy của thay đổi khí hậu đến sản xuất thực phẩm toàn cầù
Có vẻ như là trên bình diện toàn cầu, tăng năng suất trồng trọt chủ yếu xẩy ra ở các nước phát triển do các lợi ích mà thay đổi khí hậu mang lại. Hầu hết các nước đang phát triển năng suất nông nghiệp sẽ giảm (Parry et al 2004), kể cả chăn nuôi vì giá thức ăn tăng cao (Orskov, 2008). Năng suất nông nghiệp theo dự báo sẽ giảm khoảng 20-25% ở một số nước như Mexico, Nigeria hoặc Nam phi (Cline 2008 on the website of the Peterson Institute for International Economics). Kết quả là số người có khả năng đói trên hành tinh sẽ tăng từ 380 triệu lên 1300 triệu năm 2080, tùy thuộc vào kịch bản bốc thoát khí nhà kính trong tương lai. 850 triệu người sẽ đi ngủ với một cái bụng lép, và 2 tỷ người sẽ phải đối mặt với các bệnh do côn trùng truyền lây, thiếu nước, càng trở nên ngèo đói hơn (Watson, 2008).

1.5. Thách thức
Thách thức là bằng cách nào đó phải giảm ngay độ lớn và tỷ lệ thay đổi khí hậu do con người gây ra để giảm thải khí nhà kính thải vào khí quyển từ các hoạt động bao gồm cả các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt nông lâm nghiệp, giảm rủi ro cho hệ sinh thái và súc khoẻ con người (Watson, 2008). Hiểu biết hiện nay cho thấy ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu sẽ xuất hiện khi nhiệt độ bề mặt hành tinh tăng hơn 2oC và tốc độ tăng vượt quá 0,2oC/10 năm (Watson, 2008). Ổn định hàm lượng CO2 qui đổi ở mức 450 ppm sẽ ngăn được nhiệt độ bề mặt hành tinh tăng hơn 2oC.

1.6. Đóng góp của chăn nuôi trong biến đổi khí hậu và môi trường
Chăn nuôi chiếm 70% đất nông nghiệp và 30% diện tích không có băng giá của hành tinh, tạo ra 40% GDP của nông nghiệp toàn cầu, đóng góp đáng kể đến biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường (Watson, 2008). Nhu cầu toàn hành tinh về các sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng gấp đôi trong nửa đầu thế kỷ 21 do tăng dân số (Watson, 2008). Trong thời gian này khí hậu trái đất cũng sẽ có thay đổi lớn.

An ninh lương thực vẫn là ưu tiên số 1 ở các nước đang phát triển và chăn nuôi đóng vai trò chủ đạo ở phần lớn các nứơc này. Chúng ta vì thế cần khoa học chăn nuôi chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm chăn nuôi an toàn về môi trường và xã hội (Watson, 2008). Cũng cần xem lại xem các phát hiện mới nhất về thay đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến chăn nuôi cũng như vai trò của chăn nuôi trong biến đổi khí hậu và làm thế nào để giảm đóng góp của chăn nuôi đến thay đổi khí hậu, làm thế nào các hệ thống chăn nuôi có th ể đáp ứng đựơc với thay đổi khí hậu và cái gì nên là các ưu tiên trong nghiên cứu chăn nuôi trong bối cảnh mới (Watson, 2008). Vai trò của chăn nuôi trong chu kỳ N và C, đến thay đổi khí hậu liên hệ chặt chẽ đến ảnh hưởng của chăn nuôi đến sử dụng đất như đất chăn thả (đồng cỏ) đất trồng cây thức ăn gia súc (thức ăn xanh và tinh) (Steinfeld and Hoffmann, 2008).

Khi xem xem xét cả chu kỳ sản xuất hàng hóa khí thải nhà kính từ chăn nuôi đóng góp làm trái đất nóng lên là 18%, hay gần một phần năm khí thải nhà kính (FAO, 2006a; Steinfeld et al. 2006) khí thải nhà kính từ chăn nuôi lớn hơn khí thải từ xe hơi và các phương tiện giao thông khác (FAO, 2006a), chăn nuôi đóng góp 9% (CO2), 37 % CH4 và 65 % N2O tổng khí thải nhà kính (Steinfeld and Hoffmann, 2008). Lượng N2O sẽ còn tăng lên nữa trong các thập kỷ tới vì đồng cỏ đang đươc mở rộng tối đa ở hầu khắp các vùng của thế giới vì chăn nuôi đang mở rộng, cần nhiều đất sản xuất thức ăn hơn (Steinfeld and Hoffmann, 2008). Ở hầu hết các loại đất nông nghiệp kể cả đồng cỏ thu cắt, bón phân nitơ, hoặc phân và chất thải gia súc có chứa N sẽ kích thích bốc thoát N2O (Soussana et al., 2007).

Có ba loại khí thải nhà kính (Green house gases-GHGs) là CO 2, methan (CH4), và nitrous oxide (N2O) (Steinfeld et al. 2006). Trong khi người ta chú ý nhiều đến CO2, methan (CH4) và nitrous oxide (N2O) có tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính lớn hơn rất nhiều so với CO2 (Koneswaran và Nierenberg, 2008). Nếu coi một g CO2 là một đơn vị (hay đương lượng CO2) gây hiệu ứng nhà kính (làm nóng khí quyển và trái đất) thì tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính của một g methan (CH4) và 1g nitrous oxide (N2O) là 23 và 296 đương lượng CO2 (Koneswaran và Nierenberg, 2008). Trong báo cáo vào tháng 11, 2006 c ủa FAO (November 2006 report, Livestock’s Long Shadow: Environmental Issues and Options, by the Food and Agriculture Organization (FAO) of the United Nations), chăn nuôi có vai trò đáng kể làm trái đất nóng lên và là một trong những đe dọa lớn cho môi trường toàn cầu (FAO 2006a). Vì số lượng gia súc tăng, khí thải nhà kính cũng sẽ tăng theo. Tăng số lượng gia súc, tăng số trang trại nuôi gia súc tập trung đã làm tăng khí thải nhà kính từ chăn nuôi và từ chất thải (phân) của gia súc (Paustian et al. 2006).

Công nghệ chăn nuôi phát triển, nhiều trang trại chăn nuôi công nghiệp tập trung xuất hiện, phân thải ra từ các trang trại này nhiều hơn lượng phân cần thiết cho trồng trọt (FAO 2005b), dẫn đến tích tụ phốt pho, nitơ và các chất gây ô nhiễm khác trong đất, nước ngầm, sông hồ, biển (Thorne 2007). Nhốt một số lượng lớn gia súc ga cầm trong chuồng làm tăng các vấn đề về môi trường và là một trong 2 hoặc 3 yếu tố quan trọng nhất của chăn nuôi đóng góp vào những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất (Steinfeld et al. 2006). CO2 từ chăn nuôi chủ yếu từ sử dụng phân bón cho tr ồng cỏ và cây thức ăn, đốt nhiên liệu chạy các máy móc dùng cho chăn nuôi ... (Steinfeld et al. 2006). Ví dụ để sản xuất 1 kg thịt bò cần tới 4,37 MJ hay 1,21 kilowat-giờ, còn để sản xuất 12 quả trứng cần hơn 6 MJ hay 1,66 kilowat-giờ (Steinfeld et al. 2006). Methan từ chăn nuôi chủ yếu đến từ quá trình lên men thức ăn ở dạ cỏ - enteric fermentations và phân gia súc và ch ụi ảnh hưởng của một số yếu tố như: tuổi gia súc, khối lượng, chất lượng thức ăn, hiệu quả tiêu hóa thức ăn... (Paustian et al. 2006; Steinfeld et al. 2006). Hàng n ăm chăn nuôi, chủ yếu là chăn nuôi gia súc nhai lại tạo ra khoảng 86 triệu tấn methan/năm (Steinfeld et al. 2006). Bò vỗ béo trong feedlot, ăn các khẩu phần tiêu chuẩn tạo ra phân với tiềm năng tạo khí methan rất cao, trong khi đó bò chăn thả ăn các khẩu phần tự nhiên (cỏ và phụ phẩm), năng lượng thấp tạo ra phân có ti ềm năng sinh methane bằng một nửa khẩu phần tiêu chuẩn (U.S. EPA, 1998). Theo Pew Center on Global Climate Change, phân gia súc sinh ra 25 % khí methan và 6 % nitrous oxide trong nông nghi ệp tại Hoa kỳ (Paustian et al. 2006). Trên bình diện toàn cầu, khí nhà kính từ phân lợn chiếm gần một nửa khí nhà kính từ chăn nuôi (Steinfeld et al. 2006). Phân gia súc tạo ra gần 18 triệu tấn methan/năm (Steinfeld et al.2006).

Từ năm 1990 đến 2005 ở Hoa kỳ, khí methan từ chăn nuôi bò sữa và lợn đã tăng tương ứng 50 và 37 % (U.S. EP A, 2007a). Chăn nuôi tạo ra 65 % khí nitrous oxide (Steinfeld et al. 2006).
Chăn nuôi ảnh hưởng đến nhiều mặt của môi trương: ô nhiễm đất và không khí, nước ngầm, chất lượng đất, giảm đa dang sinh học, đóng góp vào thay đổi khí hậu (Jean-Yves et al., 2008). Tuy nhiên đóng góp làm tăng khí thải nhà kính rất khác nhau từ ngành chăn nuôi này sang ngành chăn nuôi khác. Đóng góp của quá trình lên men ở dạ cỏ, sử lý phân và sản xuất cỏ và thức ăn gia súc vào tổng lượng khí thải nhà kính từ chăn nuôi lợn và bò sữa rất khác nhau. Bằng phương pháp đánh giá toàn bộ chu trình sống của gia súc (life cycle assessment - LCA) các tác giả Basset-Mens and van der Werf (2005); Roger et al. 2007 cho th ấy: tính trên 1 ha một năm khí thải nhà kính từ chăn nuôi bò sữa cao hơn khí thải nhà kính từ chăn lợn một chút (Bảng1).


Chăn nuôi lợn
Chăn nuôi bò sữa
Kg eq CO2
% của tổng
Kg eq CO2
% của tổng
Cho một đơn vị sản phẩm (kg thịt lợn, lít sữa)
2.47
100
0.88
100
Nguồn gốc từ:

Lên men đường tiêu hóa
0.08
3.2
0.35
40.0
Thu thập, sử lý phân
0.68
27.2
0.16
18.0
Sản xuất cỏ và thức ăn
1.67
67.6
0.32
36.0
Các nguồn khác
0.04
1.6
0.05
6.0
Loại khí nhà kính

CH4
0.49
19.9
0.46
52.8
N2o
1.03
41.8
0.26
29.2
CO2
0.95
38.3
0.16
17.9
Trên một ha đất/năm
4240

5080

*: Basset-Mens and van der Werf (2005); Roger et al. 2007)
Bảng 1: Ước tính khí thải gây hiệu ứng nhà kính (Đương lượng CO2 – eqCO2)
trong chăn nuôi lợn và chăn nuôi bò sữa.*

Tuy nhiên nguồn khí gây hiệu ứng nhà kính khác nhau gi ữa chăn nuôi lợn và bò sữa. Ở bò sữa hầu h ết khí nhà kính là từ lên men trong d ạ cỏ (40%), tiếp đến là từ sản xuất thức ăn và cỏ (36%) (Jean-Yves et al., 2008). Đối với lợn sản xuất thức ăn tạo ra nhiều khí nhà kính nhất (68%) tiếp đến là thu thập, xử lý, bảo quản phân (28%) (Jean-Yves et al., 2008). Nitrous oxide và CO2 là hai khí nhà kính chủ yếu trong chăn nuôi lợn, trong khi CH4 là khí nhà kính chủ yếu trong chăn nuôi bò sữa (Jean-Yves Dourmad et al., 2008). Có biến động lớn về lượng khí thải nhà kính: cho 1 t ấn sữa từ: 600 đến 1500 kg đương lượng (eq) CO2 (Cederberg and Mattson (2000), Haas et al. (2001), Cederberg and Flysö (2004), Thomassen et al. (2008), Roger et al., 2007 and Basset-Mens et al. (2007), cho 1 kg th ịt lợn: từ 2 đến kg eq CO2 (Basset-Mens and van de Werf (2005), Cederberg, (2002), Dalgaard and Halberg (2005), Blonk et al. (1997, cited by Basset-Mens and van de Werf, 2005 ), Carlsson-Kanyama (1998). Trong điều kiện chăn thả số lượng methan tạo ra phụ thuộc vào số lượng gia súc trên một đơn vị diện tích. Lượng CH4 thải ra/đơn vị khối lượng thay đổi tùy thuộc vào loại gia súc chăn thả và vào khoảng: 0,33 và 0,45 gCH4 /kg khối lượng với bò cái tơ và bò đực và đến 0,68-0,97g CH4 kg/kg khối lượng ở bò sữa (Pinares- Patino et al., 2007).

Tóm lại: Biến đổi khí hậu và môi trường không còn là lý thuyết trừu tượng của các nhà khoa học mà đang hiện hữu và gây ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với chăn nuôi rất lớn và trên nhiều khía cạnh. Chăn nuôi, xét về khía cạnh môi trường, cũng là một tác nhân lớn đóng góp vào biến đổi khí hậu và môi trường. Như vậy với chăn nuôi gia súc nhai lại cần phải quan tâm cả CH4 và N2O, CO2, trong khi chăn nuôi gia súc dạ dầy đơn phải quan tâm chủ yếu đến CO2, N2O và NH3 (Wall et al., 2008). (còn tiếp...)
References cho phần 1
Basset-Mens C, Ledgard S, Boyes M 2007. Eco-efficiency of intensification scenarios for milk production in New Zealand.

Ecological Economics.doi:10.1016/j.ecolecon.2007.11.017 

Basset-Mens C, van der Werf H 2005. Scenario-based environmental assessment of farming systems: the case of pig production. Agriculture, Ecosystems & Environment 105, 127-144.

Carlsson-Kanyama A 1998. Energy consumption and emissions of greenhouse gases in the life-cycle of potatoes, pork meat, rice and yellow peas. Technical report 26 ISSN1104-8298. Department ofSystems Ecology, Stockholm, Sweden. 

Cederberg C 2002. Life cycle assessment of animal production. PhD Thesis. Department of Applied Environmental Science, Göteborg University, Sweden.

Cederberg C, Flysjö A 2004. Life cycle inventory of 23 dairy farms in south-Western Sweden. In: SIK report n° 728, SIK, Göteborg, Sweden.

Cederberg C, Mattson B 2000. Life cycle assessment of milk production – a comparison of conventional and organic farming. Journal of Cleaner Production 8, 49-62.

Christensen, L., M.B. Coughenour, J.E. Ellis, Z.Z. Chen, 2004. Climatic Change 63: 351–368, 2004.  Cline 2008 on the website of the Peterson Institute for International Economics.

Dalgard R, Halberg N, 2005. Life cycle assessment of Danish pork. In: Green Pork Production, ed. INRA, Paris, 25-27 May 2005.

Easterling, W.E., P.K. Aggarwal, P. Batima, K.M. Brander, L. Erda, S.M. Howden, A. Kirilenko, J. Morton, J.-F. Soussana, J. Schmidhuber and F.N. Tubiello, 2007: Food, fibre and forest products. Climate Change 2007: Impacts, Adaptation and Vulnerability. Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change, M.L. Parry, O.F. Canziani, J.P. Palutikof, P.J. van der Linden and C.E. Hanson, Eds., Cambridge University Press, Cambridge, UK, 273-313.

Epstein, P.R. 2001. Microbes and Infection, 3, 747−754. 

FAO. 2006a. Livestock’s long shadow – environmental issues and options, edited by H. Steinfeld, P. Gerber, T. Wassenaar, V . Castel, M. Rosales & C. de Haan. Rome.

FAO. 2005b. Responding to the “livestock revolution”-the case for livestock public policies. Available: http://www.fao.org/ag/againfo/resources/documents/polbriefs/

FAO. 2006b. Breed diversity in dryland ecosystems. CGRFA/WG-AnGR-4/06/Inf. 9.

FAO. 2006. Livestock a major threat to the environment: remedies urgently needed. Available: http://www.fao.org/ag/againfo/resources/documents/polbriefs/

Haas G, Wetterich F, Köpke U 2001. Comparing intensive and organic grassland farming in southern germany by process life cycle assessment. Agriculture Ecosystems & Environment 83, 43-53.

Hoffmann, I. (2008). Livestock genetic diversity and climate change adaptation. Pp:76-80. InProceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

IPCC. 2007. Climate change 2007. Impacts, adaptation and vulnerability, Summary for policymakers and technical summary, WG II contribution to the AR4, 93 pp. 

Jean-Y ves Dourmad, Cyrille Rigolot, Hayo van der Werf. 2008.Emission of greenhouse gas, developing management and animal farming systems to assist mitigation. Pp: 36-39. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

Koneswaran, G. and D. Nierenberg, 2008. Global farm animal production and global warming:
Impacting and mitigating climate change. Pp:164-169. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

Najeh Dali. 2008. Principal guidelines for a National Climate Change Strategy: Adaptation, mitigation and international solidarity. Pp:1-5. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Ørskov, E. R. 2008. Livestock nutrition in future: taking into account climate change, restricted fossil fuel and arable land used also for biofuel leading to high grain prices. Pp:144. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M. Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, TunisiaCambridge Univesity press, May , 2008.

Parry. M. L., C. Rosenzweig, A. Inglesias, M. Livermore and G. Fischer. 2004. Effects of climate change on global food production under SRES emission s and socio-economic scenarios. Global Environmental Change, Part A, 14(1), 53-67 pp.

Paustian K, Antle M, Sheehan J, Eldor P. 2006. Agriculture’s Role in Greenhouse Gas Mitigation. Washington, DC: Pew Center on Global Climate Change.

Pinares-Patiño C, Ulyatt MJ, Holmes CW Barry TN and Lassey KR 2001. In Energy and Protein Metabolism and Nutrition, EAAP publication 103, pp 117-120, Wageningen Academic Publishers, the Netherlands.

Pinares-Patino, C.S., Dhour, P., Jouany, J.-P., and Martin, C. 2007. Agriculture, Ecosystems and Environment 121:30. 

Prayaga, K.C., W. Barendse & H.M. Burrow, 2006. Genetics of tropical adaptation. 8th World Congress
on Genetics Applied to Livestock Production, August 13-18, 2006, Belo Horizonte, MG, Brasil.
Roger F, van der Werf H, Kanyarushoki C 2007. Systèmes bovins lait bretons : consommation
d'énergie et impacts environnementaux sur l'air, l'eau et le sol. Rencontres Recherches Ruminants 14, 33-36.

Seguin, B. 2008. The consequences of global warming for agriculture and food production. Pp: 9-11. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P. Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Soussana, J-F. 2008. The role of the carbon cycle for the greenhouse gas balance of grasslands and of livestock production systems Pp:12-15. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Steinfeld, H and Hoffmann, I. 2008. Livestock, greenhouse gases and global climate change. Pp: 8-9. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P. Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Steinfeld H, Gerber P, Wassenaar T, Castel V , Rosales M, de Haan C. 2006. Livestock’s Long Shadow: Environmental Issues and Options. Rome, Italy: Food and Agriculture Organization of the United Nations. 

Thomassen MA, van Calker KJ, Smits MCJ, Iepema GL, de Boer IJM 2008. Life cycle assessment of conventional and organic milk production in the Netherlands. Agricultural Systems 96, 95-107.

Thorne PS. 2007. Environmental health impacts of concentrated animal feeding operations: anticipating hazards –searching for solutions. Environ Health Perspect 115:296-297. 

U.S. EPA. 1998. Inventory of U.S. Greenhouse Gas Emissions and Sinks: 1990-1996. Washington, DC:U.S. Environmental Protection Agency.

U.S. EPA. 2007a. Inventory of U.S. Greenhouse Gas Emissions and Sinks: 1990-2005. Washington, DC:U.S. Environmental Protection Agency.

Wall, E., Bell, M. J. and Simm.G. 2008. Developing breedings schemes to assist mitigation. Pp:44-47. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: P Rowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.

Watson, R. 2008. Climate Change: An environmental, development and security issue. Pp: 6-7. In Proceedings of International Conference on Livestock and Global climate Change, 2008, Editors: PRowlinson, M Steele and A Nefzaoui,17-20 May, 2008, Hammamet, Tunisia Cambridge Univesity press, May , 2008.
 
Thiết kế bởi: Free Blogger Templates | VNBLOGGER | Thư viện Online | Tin khuyến mại | Sổ tay Online Xem Phim: Phim Ánh Trăng
Copyright © 2016. Nông Nghiệp - By Blogger.com